- Văn Nguyên Hùng
- Giữ giùm họ một phần tuổi trẻ
Giữ giùm họ một phần tuổi trẻ
Người ta ra Trường Sa thường thích săn ảnh. Có người mê đứng thật lâu bên cột mốc chủ quyền để giữ cho mình một khuôn hình. Có người canh khoảnh khắc mặt trời chìm xuống mép biển, mê những tán bàng vuông, phong ba, mê màu nước đổi thay theo nắng gió. Những nhà báo tất bật ghi chép, ghi hình. Văn nghệ sĩ thì tìm cảm hứng giữa đầu sóng.
Còn Hồ Minh Quân thường cúi xuống một gương mặt. Ở đâu có người lính trẻ đứng gần, ở đó dễ thấy người họa sĩ của đoàn công tác số 14 mở sổ, dựng giá vẽ, tay cầm bút chì, mắt nhìn rất nhanh như sợ thời gian trôi mất. Anh nhìn kỹ đôi mắt, sống mũi, màu da cháy nắng, nụ cười còn vương nét quê của người lính biển rồi nói nhỏ:
- Em ngồi yên chút nhé!
Có cảm giác, trong mắt Hồ Minh Quân, gương mặt nào cũng đáng được ký họa… “ưu tiên”.
Sau chuyến đi, tôi từng viết vui về anh:
Người ra đảo thích tìm nơi săn ảnh
Canh hoàng hôn, giữ cột mốc chủ quyền
Hồ Minh Quân gần như không phút rảnh
Ngắm gương mặt nào, cũng muốn ký… “ưu tiên”

Họa sĩ Hồ Minh Quân vẽ chiến sĩ trên đảo Đá Lớn B - Ảnh: Phạm Tuấn.
Trong nhóm văn nghệ sĩ thuộc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh tham gia đoàn công tác số 14 năm 2026 có bốn người: nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nữ biên kịch Huỳnh Mẫn Chi, họa sĩ Hồ Minh Quân và tôi. Ba anh em nam giới chúng tôi và 5 phóng viên, nghệ sĩ nhiếp ảnh từ khu vực phía Bắc ở cùng phòng D1 gần mũi tàu Trường Sa 571 - nơi mỗi khi sóng lớn, con tàu thường lắc lư như một chiếc võng khổng lồ giữa biển.
Phòng nhỏ, nhưng cũng vừa đủ cho tám phóng viên, văn nghệ sĩ. Gió biển nhiều. Sóng đập mạnh vào mạn tàu. Những ngày đầu, hầu như ai cũng say với mức độ khác nhau; có người vừa nói chuyện đã phải chạy vội ra ngoài để “giải quyết” gấp cơn say.
Hồ Minh Quân cũng say. Nhưng hình như anh cố lờ chuyện đó. Và chính ở phòng D1 ấy, tôi được thấy một Hồ Minh Quân rất khác. Áo phông. Quần short. Hai chân xếp lại trước chiếc va-li đặt nằm ngang làm bàn. Một bên là giá vẽ kèm giấy vẽ, bút chì, một bên dựng chiếc iPad đầy ảnh lính đảo vừa chụp vội. Vì nằm giường tầng trên, anh phải hơi cúi người để đầu không chạm trần.
Ngoài kia biển nghiêng ngả theo nhịp sóng. Trong phòng nhỏ nơi mũi tàu, cây bút chì của Hồ Minh Quân vẫn chạy đều theo tay chủ.
Có hôm trưa không ngủ. Có đêm thức muộn. Tàu lắc như võng vẫn ngồi.
Không phải lúc nào anh cũng kịp ký họa trực tiếp trên đảo. Mỗi điểm dừng thường quá ngắn. Một buổi cập đảo đôi khi chỉ đủ cho vài cái bắt tay, vài cuộc trò chuyện vội, vài tấm ảnh và bốn năm bức ký họa là nhiều. Trong khi những gương mặt người lính lại quá nhiều, quá đáng nhớ.
Vì thế, Hồ Minh Quân gần như luôn cầm theo iPad. Khi không kịp vẽ, anh xin chụp thật nhanh một bức ảnh:
- Để anh về vẽ tiếp!
Câu nói ấy nhiều chiến sĩ trẻ nghe mà mắt sáng lên. Bởi ở nơi đảo xa ấy, một bức ký họa đôi khi không chỉ là tranh. Mà là món quà gửi về cho cha mẹ. Một ký ức của tuổi trẻ. Một điều gì đó để giữ lại những năm tháng đứng giữa đầu sóng.
Nhiều người hỏi tôi:
- Quân vẽ nhanh thế để làm gì?
Câu hỏi nghe đơn giản, nhưng chỉ ai từng ra Trường Sa mới hiểu. Ở nơi ấy, thời gian luôn ngắn hơn điều người ta muốn. Tàu neo không lâu. Ca nô đến rồi đi. Một hồi còi cất lên là lại chia tay. Người lính vừa kịp quen mặt đã phải đứng từ mép cầu cảng nhìn theo.
Trong cái quỹ thời gian ít ỏi ấy, Hồ Minh Quân chọn bút chì. Không phải vì dễ, mà vì có thể nhanh. Nhanh để kịp trao tận tay người lính một món quà trước lúc rời đảo. Nhanh để giữ một ánh mắt còn rất trẻ. Nhanh để một chiến sĩ nào đó có thứ gửi về cho cha mẹ ở quê.
Một lần ở phòng, thấy Quân cặm cụi và nắn nót quá lâu trước một người phụ nữ, tôi đùa:
- Em này mà nhận được tranh anh Quân chắc mất ngủ mấy đêm!
Quân cười mà tay vẫn chạy trên giấy.
Có lúc tôi lại trêu: “Cậu lính này kiểu gì cũng nhờ người gửi ngay về cho bố mẹ ở quê!”
Quân ngẩng lên, cười: “Thì càng phải vẽ cho giống anh ạ!”
Cái chữ “giống” ấy với Hồ Minh Quân dường như quan trọng lắm. Không phải giống để khoe nghề. Mà giống để người lính thấy chính mình trong đó. Để cha mẹ họ ở quê nhận được bức tranh mà nhận ra ngay: “Ừ, thằng con mình đây.”
Trong phòng D1, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn gần như tự nhận thêm nghề mới: “cò mồi” cho họa sĩ. Mỗi khi thấy một chiến sĩ có gương mặt sáng, có nét riêng hay đôi mắt nhiều biểu cảm, Nhơn lại kéo Quân: “Anh Quân! Cậu này được nè!”
Có hôm còn chỉ tay rất chắc nịch: “Gương mặt này lên tranh ngon!”
Rồi khi bức vẽ vừa xong, tiếng anh lại vang cả phòng: “Đ. má, giống quá!”
Tiếng reo ấy nhiều lần khiến cả phòng bật cười. Đến mức có hôm chính Hồ Minh Quân cũng bắt chước: “Đ. má, gương mặt này khó vẽ quá!”. Nghe Quân đùa hồn nhiên, ai cũng cười nghiêng ngả. Những lúc như thế, phòng D1 không còn giống phòng nghỉ của một đoàn công tác giữa biển nữa. Nó giống một góc nhỏ của TP.HCM đang lênh đênh ngoài khơi.
Có người ngồi viết vội vài dòng ghi nhớ một ý thơ hoặc một việc cần làm. Có người kể chuyện sân khấu, chuyện phim. Có người vừa say sóng vừa cố ăn miếng táo được gọt dở. Cam được cắt vội chuyền tay. Một lon bia bật nắp muộn sau ngày dài nắng gió.
Giữa những tiếng cười ấy, Hồ Minh Quân vẫn thường là người lặng hơn. Chỉ đôi khi ngẩng lên cười vài câu rồi lại cúi xuống. Bút chì tiếp tục lia trên giấy. Vẽ ở Trường Sa, với anh, dường như không phải chuyện “làm nghệ thuật”. Mà là chuyện giữ người.
Có chiến sĩ trẻ nhận tranh, ngắm rất lâu rồi nói bằng giọng thật thà: “Em gửi cái này về chắc mẹ vui lắm!”. Có người cứ nhìn đi nhìn lại rồi cười ngượng: “Giống em ghê anh ơi…”. Và cũng có chiến sĩ thoáng buồn khi tàu sắp rời mà chưa đến lượt mình. Tôi từng viết về ánh mắt ấy:
Có chiến sĩ thoáng buồn chưa được họa
Tàu đi rồi vẫn đứng dõi theo sau
Người nghệ sĩ ngoái nhìn về phía đảo
Tiếc những nụ cười chưa kịp trao

Họa sĩ Hồ Minh Quân vẽ chiến sĩ trên đảo Đá Lớn B - Ảnh: Nguyên Hùng.
Đi hết vài đảo rồi tôi mới hiểu: Hồ Minh Quân không mê vẽ người lính theo cách của một họa sĩ đi tìm đề tài. Anh lưu luyến họ như một người sợ mình giữ không kịp tuổi trẻ của biển.
Đi cùng Hồ Minh Quân vài ngày ngoài biển, tôi bắt đầu hiểu một điều: Anh gần như không có khái niệm “vẽ cho xong”. Mà chỉ có: vẽ cho kịp. Kịp trước khi còi tàu vang lên. Kịp trước khi ca nô rời cầu cảng. Kịp để người lính trẻ ấy còn có một món quà mang về phòng trực hay gửi về quê nhà. Bởi thế, ở Trường Sa, Hồ Minh Quân chọn bút chì. Không phải màu nước - chất liệu quen thuộc của anh trong sáng tác sau này. Bút chì nhanh hơn. Gọn hơn. Chịu gió tốt hơn. Và đủ để một gương mặt hiện lên trước khi thời gian khép lại. Một buổi cập đảo nhiều khi chỉ đủ cho bốn, năm ký họa, trong khi người muốn được vẽ thì nhiều.
Có những gương mặt khiến Quân cứ tiếc mãi. Tàu đã giục. Mọi người lên ca nô. Anh vẫn ngoái nhìn: “Tiếc quá… cậu kia mặt đẹp, rất nam tính đầy chất lính mà chưa kịp vẽ”. Nói rồi lại vội mở iPad, phóng to một tấm ảnh vừa chụp. Để dành.
Có lần tôi hỏi đùa: “Chụp nhiều thế làm gì, tính về mở xưởng chân dung lính biển à?”. Quân cười: “Không. Để nhớ. Với lại… biết đâu sau này còn vẽ tiếp”.
Tôi hiểu cái “vẽ tiếp” ấy không chỉ là hoàn thiện một bức ký họa. Mà là để Trường Sa sống thêm một đời sống khác. Bởi khi trở về thành phố, Hồ Minh Quân lại trở về với màu nước.
Những gương mặt chụp vội trên iPad, những ký họa còn dang dở, những đôi mắt lính đảo còn ám trong trí nhớ… lặng lẽ đi vào tranh. Ở ngoài đảo, anh vẽ nhanh để trao tận tay. Về đất liền, anh vẽ chậm hơn để giữ lại. Một bên là món quà của tình người. Một bên là ký ức được nghệ thuật hóa.
Có lần, lãnh đạo đoàn nhờ Quân vẽ chân dung vài vị khách quan trọng. Tôi để ý thấy anh thoáng lưỡng lự. Không phải vì ngại khó. Mà hình như anh sợ cảm giác hội họa trở thành một kiểu xã giao hay lấy lòng ai đó. Rồi anh vẫn làm. Và làm rất kỹ.
Tôi hỏi: “Sao lúc nãy còn chần chừ?” Quân cười nhẹ: “Đã nhận vẽ thì phải cho tử tế chứ anh”.
Câu nói ấy nghe giản dị mà giống chính con người anh. Ít nói. Không thích ồn ào. Không kể công. Nhưng làm gì cũng muốn làm đến nơi đến chốn. Ngay cả lúc mệt. Ngay cả khi sóng đánh làm cabin nghiêng như võng.
Có hôm thấy Quân ngồi lâu quá, mặt tái đi vì say sóng, cả phòng lại xúm vào kiếm chuyện cho anh vui. Người cắt cam. Người gọt táo. Người khui lon bia. Lê Thiếu Nhơn vẫn không quên vai “trợ tá tuyển mẫu” của mình: “Anh Quân ơi, mai lên đảo em kiếm cho anh mấy gương mặt ăn tiền nữa!”. Quân cười: “Xong bức này, anh em phòng mình lại tha hồ nhận quà, sắp được nhậu!”
Rồi lại cúi xuống. Bút chì tiếp tục lia. Có lúc nhìn anh như thế, tôi cứ nghĩ: Ở nơi đầu sóng ngọn gió này, Hồ Minh Quân không chỉ đang vẽ chân dung người lính, mà còn đang cố giữ giùm họ một phần tuổi trẻ.

Vị trí làm việc của họa sĩ Hồ Minh Quân (giường tầng trên, phòng D1 Tàu Trường Sa 571) - Ảnh: Nguyên Hùng.
Đi hết hành trình Trường Sa và Nhà giàn DK1, điều còn ở lại trong tôi về Hồ Minh Quân không phải trước hết là những bức tranh. Mà là một dáng ngồi. Một người đàn ông áo phông, quần short, ngồi hơi khom trên giường tầng phòng D1, trước chiếc va-li làm bàn, mặc cho con tàu Trường Sa 571 lắc nghiêng theo sóng mà cây bút chì vẫn không chịu nghỉ.
Ngoài kia biển gió đổi thay từng giờ. Trong căn phòng nhỏ đầu mũi tàu, có người đang cố giữ lại vài gương mặt lính trẻ trước khi thời gian trôi đi. Có thể rồi đây, nhiều ký họa năm ấy sẽ tiếp tục hiện diện đâu đó trong những bức màu nước của Hồ Minh Quân, trong một cuộc triển lãm, một phòng tranh hay góc làm việc lặng lẽ giữa thành phố. Nhưng với tôi, điều đáng nhớ hơn cả vẫn là những ánh mắt người lính khi nhận tranh.
Một nụ cười ngượng nghịu. Một câu: “Em gửi về chắc mẹ mừng lắm!”. Một cái nhìn tiếc nuối của người chưa kịp được họa. Và cả dáng người nghệ sĩ ngoái nhìn lại phía đảo khi tàu đã hú còi rời bến. Hình như anh luôn thấy thời gian ở Trường Sa quá ngắn. Còn gương mặt người lính thì quá nhiều để giữ.
Có lẽ vì thế mà Trường Sa không ở lại với Hồ Minh Quân như một miền ký ức. Nó theo anh trở về thành phố. Đi từ những nét chì vội giữa đảo xa đến những mảng màu nước lặng hơn trong phòng vẽ. Để nhiều năm sau nữa, đâu đó giữa phố đông, người ta vẫn có thể bắt gặp một ánh mắt lính đảo, một gương mặt rám nắng hay nụ cười rất trẻ của biển khơi… đang âm thầm sống tiếp trong tranh. Và tôi biết, ở một nơi nào đó trong người họa sĩ ấy, con tàu 571 vẫn còn đang lắc nhẹ.
Sau chuyến đi, nhiều khi giữa phố đông, tôi vẫn nhớ cái dáng ngồi hơi khom ấy trong phòng D1. Một chiếc va-li làm bàn. Một cây bút chì chạy vội. Chiếc iPad dựng nghiêng cạnh tập giấy. Ngoài kia sóng đánh vào mũi tàu 571 nghe thình thịch như gõ cửa.
Người họa sĩ áo phông, quần short đôi lúc ngẩng lên, nheo mắt nhìn một gương mặt rồi bật cười: “Đ. má, gương mặt này khó vẽ quá!”. Cả phòng cười theo. Rồi anh lại cúi xuống. Như thể ngoài kia biển còn rộng quá.
Và tuổi trẻ của những người lính thì không thể đợi lâu hơn.
Tháng 5/2026,
NH.
Mời đọc bài thơ Người vẽ lính nơi Trường Sa
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, số 21, ra ngày 11/6/2026.



