- Truyện ký - Tản văn
- Một hành trình từ xứ Nghệ đến biển lớn
Một hành trình từ xứ Nghệ đến biển lớn
CBTT: Từ miền quê xứ Nghệ giàu truyền thống yêu nước, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đường cứu nước, mở đầu cho một hành trình lịch sử có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc. Nhìn lại bước đi ấy trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là dịp để soi chiếu bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng phát triển, hội nhập của đất nước hôm nay.
Trong lịch sử các dân tộc, có những con người không chấp nhận đứng yên trong không gian chật hẹp của thời đại mình. Họ đi – không phải để rời bỏ quê hương, mà để tìm một con đường rộng hơn cho dân tộc. Với Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, “đi” không phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, càng không phải sự phiêu lưu nhất thời, mà là một quyết định chiến lược của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng giải phóng dân tộc.
Hành trình ấy bắt đầu từ một miền quê gió Lào cát trắng – xứ Nghệ, nơi những dòng sông như sông Lam mang trong mình mạch nguồn bền bỉ, âm thầm chảy ra biển lớn. Từ đó, một con người đã đi rất xa, để rồi mở ra con đường đi cho cả một dân tộc.
Từ bờ sông Lam mở ra những chân trời

Từ xứ Nghệ đến biển lớn – một hành trình mở đường cho dân tộc (tranh minh họa)
Ai từng sinh ra ở Nghệ An đều hiểu: xứ Nghệ là miền đất mà căn tính “đi xa” đã nằm sẵn trong máu. Từ Làng Sen – gốc lúa nếp, bờ tre, mùa nước lên chạm mé bãi ngô; đến Nghi Lộc xưa – những xóm làng quẩn quanh bãi cát biển, những con đường đất hun hút nối ruộng đồng với chợ quê – người Nghệ đã quen với chuyện “đi”. Đi kiếm sống, đi tìm cái chữ, đi theo sóng biển vào Nam, vượt những chặng đường quanh co ra Bắc… Những bước chân ấy in hằn trên cát nóng, thấm đẫm mồ hôi mặn chát, mang theo cả hương vị chua cay của cam quýt, của khế rừng trong gió Lào.
Chính nơi đây, bên bờ sông Lam tưởng như nhỏ bé ấy, đã hun đúc nên ý chí và tầm vóc của một con người, để rồi trở thành bến khởi đầu cho những bước chân vĩ đại.
Với Nguyễn Tất Thành, cái “đi” ấy vượt sang một cấp độ khác. Không phải đi để mưu sinh, mà là đi để kiến tạo sinh mệnh cho một dân tộc. Từ Làng Sen, Người mang theo hành trang không phải là vàng bạc, mà là một trái tim yêu nước nóng bỏng và một bộ óc tỉnh táo khao khát giải mã những bài toán của thời đại. Ở tuổi 21, Người lên tàu tại Bến Nhà Rồng, không phải để du ngoạn, mà để tận mắt nhìn xem thế giới đang vận hành ra sao, và quan trọng hơn cả, để tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình.
Đi khắp thế giới để tìm đường cứu nước
Hà Nội không thể cho Người câu trả lời. Huế không đủ. Phan Thiết – Sài Gòn chỉ là những va đập đầu tiên. Nhưng Marseille, London, Paris đã trở thành những “trường học lớn” của một trí tuệ đang chín.
Tại Marseille, Người nhìn thấy nước Pháp ngay tại cửa ngõ của “mẫu quốc”, nơi cất giấu những cơ chế thực dân tinh vi nhất. Ở London, trong cái lạnh âm ẩm của xứ sương mù, Người làm thợ rửa ảnh – đôi bàn tay lặng lẽ trong phòng tối, nhưng tâm trí thì rực sáng bởi những tư tưởng mới, bởi sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa thực dân ngay tại “trái tim” của nó. Ở Paris, giữa ánh đèn điện lung linh và những quán cà phê ồn ã, Người làm bồi bàn, nhưng không để ánh sáng phù hoa làm lu mờ lý tưởng. Chính tại đây, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên chính trường quốc tế, ký những văn bản đầu tiên gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles (1919), đòi quyền bình đẳng cho dân An Nam.
Paris – London – Marseille… đó không phải những miền lãng mạn, mà là những nơi tôi luyện trí tuệ, ý chí và bản lĩnh chính trị. Từ đó, Người hiểu rằng: muốn cứu nước, không thể chỉ dựa vào lòng yêu nước thuần túy, mà phải đi tới căn nguyên của quyền lực – lý luận, tổ chức và hệ thống quốc tế.
Từ châu Âu, bước chân Người tiếp tục sang Moskva – thủ đô của Cách mạng Tháng Mười. Ở đó, Nguyễn Ái Quốc không chỉ học chủ nghĩa Mác – Lênin, mà học phương pháp xây dựng Đảng, học cách biến tư tưởng thành hành động cách mạng. Rồi lần lượt Quảng Châu – Xiêm – Thái Lan trở thành những trạm trung chuyển của cách mạng Việt Nam. Những lớp huấn luyện nhỏ trong các căn phòng kín đáo, những tờ báo Thanh Niên mỏng manh nhưng chứa đựng ngọn lửa cách mạng… từ đó hình thành dần một lực lượng nòng cốt, một nền móng bền vững cho con đường giải phóng dân tộc.
Ba mươi năm đi để trở về
Sau ba mươi năm bôn ba, Người trở về. Ba mươi năm, bụi đường năm châu bám trên ngực áo, hóa thành lớp áo giáp của kinh nghiệm và từng trải. Nhưng trái tim ấy, sau tất cả những va đập và chứng kiến, không hề vẩn đục, mà càng tinh khiết hơn một tình yêu Tổ quốc.
Năm 1941, tại Pác Bó – hang Cốc Bó, nơi mạch nguồn cách mạng Việt Nam hồi sinh, Người nói một câu mà lịch sử mãi còn ghi nhớ:“Dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.
Bốn năm sau, trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (1945), Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không… chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Đó không chỉ là lời căn dặn, mà là một tuyên ngôn niềm tin vào tương lai dân tộc.
Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của văn học
Trong đời sống tinh thần Việt Nam, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa, một dòng chảy cảm hứng bền bỉ của văn học. Nhà văn Sơn Tùng với Búp sen xanh, Hoa dâm bụt, Bông sen vàng… đã dựng lại tuổi thơ và tuổi trẻ của Người bằng một đời nghiên cứu công phu, tận hiến. Nhà văn – học giả Nguyễn Thế Kỷ với trường ca tiểu thuyết Nước non vạn dặm đã khắc họa một hành trình cách mạng gian lao mà oanh liệt, trải dài qua nhiều không gian và thời đoạn lịch sử.
Bên cạnh đó, nhà văn Trình Quang Phú cũng miệt mài lần theo dấu chân Người từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng, để lại nhiều tập truyện ký, bút ký viết về Bác Hồ, góp phần làm phong phú thêm mảng văn học viết về lãnh tụ.
Những tác phẩm ấy cho thấy: viết về Hồ Chí Minh không phải để thờ phụng, mà là một cách giáo dục truyền thống nhẹ mà thấm, bền mà sâu, nuôi dưỡng tâm hồn Việt qua nhiều thế hệ.

Một số tác phẩm tiêu biểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ xứ Nghệ nhìn ra hôm nay
Xuân này, tôi về Cửa Hội, nơi dòng Lam vẫn trôi lững lờ, âm thầm bồi đắp phù sa. Trong chợ quê, người đặt lá dong, người mua sẵn nếp, người khảo giá thịt… những sinh hoạt tưởng như nhỏ bé ấy làm nên hồn cốt bền vững của một miền đất.
Từ xứ Nghệ, một con người đã đi rất xa để tìm đường cho dân tộc. Hôm nay, khi Đại hội Đảng lần thứ XIV đang diễn ra, nhìn lại hành trình ấy không chỉ là tri ân lịch sử, mà còn là một lời nhắc nhớ cho từng bước đi của chúng ta: đi với tri thức, với bản lĩnh, với tinh thần phụng sự dân tộc; đi để hội nhập nhưng không hòa tan; đi để mang quê hương theo mình, chứ không bỏ lại phía sau.
Nếu mỗi bước chân hôm nay – dù đi đâu, làm gì – đều đi với tinh thần ấy, thì đất nước này sẽ còn nhiều lần “tươi đẹp” hơn điều Bác từng ước vọng. Như sông Lam, dẫu quanh co, uốn khúc, nhưng trong từng dòng chảy vẫn âm ỉ sức mạnh của phù sa và khát vọng tìm về biển lớn – để hòa vào đại dương bao la của thế giới.