- Ngôn ngữ-Lý luận - Phê bình
- Bàn tròn kỳ 30: Khi ý tưởng bị đánh tráo
Bàn tròn kỳ 30: Khi ý tưởng bị đánh tráo
KỲ 30
Từ nhiều kỳ nay, Bàn tròn Văn học liên tục xoay quanh “nghi án Trăm Ngàn” – một câu chuyện đã làm nóng dư luận giới cầm bút và độc giả yêu văn chương không chỉ bởi chất lượng tác phẩm, mà còn bởi những nghi vấn về sự minh bạch trong cách thức xét giải và thậm chí cả quyền tác giả của tác phẩm này(?!)
Ở kỳ này, chúng ta cùng đọc truyện ngắn “Sư phụ” của nhà văn Đặng Chương Ngạn. Đây là một tác phẩm hư cấu, nhưng cách dựng tình huống, cách kể chuyện khiến độc giả không thể không liên hệ tới những bàn tán đang lan truyền: chuyện một người viết trẻ tin cậy chia sẻ cốt truyện tâm huyết cho thầy, để rồi chứng kiến nó biến thành “kiệt tác” dưới một bút danh xa lạ, nhận giải thưởng lớn và được tung hô là “thiên tài hiện sinh”.
Nỗi đau ở đây không chỉ là mất đi một ý tưởng, mà còn là sự méo mó giá trị: những chi tiết sai lệch, phi lý lại được một bộ phận trong giới phê bình nâng niu, bao che, hợp thức hóa bằng những mỹ từ hậu hiện đại. Người học trò cuối cùng chỉ còn cách rời bỏ giấc mộng văn chương, để lại sau lưng một “ngôi đền” đã bị hoen ố bởi sự thiếu liêm chính.
Chúng ta chưa đủ chứng cứ để khẳng định điều gì về quyền tác giả của “Trăm Ngàn” và rất mong những lời đồn thổi xung quanh chuyện này chỉ đơn giản là một trong những thuyết âm mưu của những người thích truyện giật gân. Nhưng đọc “Sư phụ”, hẳn ai cũng thấy một hồi chuông cảnh báo: khi công bằng và minh bạch không được bảo vệ, thì giải thưởng, dư luận và cả phê bình cũng chỉ là những toà lâu đài xây trên cát.
Bàn tròn Văn học kỳ 30 xin mời bạn đọc cùng đối thoại về câu chuyện này – không phải để truy cứu cá nhân, mà để suy nghĩ sâu xa hơn: văn chương sẽ đi về đâu, nếu lòng tin của người viết trẻ bị phản bội và lòng tin của công chúng bị bỏ rơi?
SƯ PHỤ!
Quỳnh Trang hồi nhỏ hay phụ mẹ bán hoa tươi ở một thị trấn nhỏ. Lúc không có khách, nàng thường ngồi đọc mấy tờ báo cũ mẹ mua về để gói hoa cho khách. Những câu chuyện ở đó làm nàng say mê, thích thú. Nàng ao ước, sau này sẽ trở thành nhà văn, viết truyện đăng ở mấy tờ báo văn chương ấy.
Quỳnh Trang học giỏi, nhất là môn văn. Nàng thi đậu vào chuyên văn tỉnh, giành giải nhất văn tỉnh kỳ thi học sinh giỏi cuối cấp. Rồi nàng lên Sài Gòn học Văn khoa, là thủ khoa đầu vào, đầu ra khóa 2kn. Nàng bám trụ Sài Gòn theo đuổi mộng văn chương...
Nàng viết cũng nhiều lắm, nhưng vẫn chưa có tác phẩm nào được giới phê bình nhắc tới. Sau 10 năm ra trường, tên nàng vẫn chìm trong hàng ngàn cây viết trẻ. May mắn thay, nàng gặp được sư phụ, một ngôi sao đang rất sáng trên bầu trời văn chương. Sư phụ nàng đi thi đâu cũng rinh giải đó. Dù đã được sư phụ dạy cho mấy bài học quý: phải luôn bám sát đề tài, luôn phải viết về nhân vật tích cực – thi về nông nghiệp thì viết gương chăn nuôi giỏi, thi về lâm nghiệp thì nhân vật chính phải là kiểm lâm vì rừng quên thân... nhưng nàng vẫn chưa bao giờ dính tên trong bảng trao giải...
***
Ngày nọ, Quỳnh Trang đi xe máy về vùng quê dự đám cưới của người em họ. Khi đi ngang cánh đồng đang mùa gặt, nàng thấy một người đàn bà chăn vịt nhỏ thó đang bị mấy ông nông dân chặn lại, đánh giữa ruộng nước lấp xấp. Họ buộc tội bầy vịt của bà tràn qua thửa ruộng chưa gặt làm lúa rụng, tính ra mất hàng chục giạ. Họ đòi bà phải đền đúng một triệu rưỡi theo giá một chục giạ lúa ngoài chợ. Người đàn bà móc hết túi chỉ còn có 500 ngàn.
Quỳnh Trang thấy vậy, lấy phong bì định đi đám cưới đưa cho mấy ông nông dân:
– “Mấy anh cầm lấy, đây đủ một triệu, tha cho bả với bầy vịt đi.”
Nàng không vào đám cưới, ngồi lại bên bờ ruộng, hỏi chuyện người đàn bà chăn vịt. Rằng bà làm nghề này để tìm quê, bà lùa vịt đi từ làng này qua xóm khác để tìm quê quán của mình. Bà sinh ra là một đứa bé mồ côi, được một người đàn ông chăn vịt nhặt trong một chòi canh dưa. Cha nuôi bà, khi hấp hối nhắn lại rằng: nơi ông tìm thấy bà có cái cổng làng xây đá màu hồng bám đầy rêu nâu, một cây đa trăm tuổi, và một giếng nước đá ong xanh... Bốn mươi năm qua, bà đã lùa vịt đi gần khắp đất Nam Bộ, không thấy làng nào có cây đa trăm tuổi, cổng gạch xây đá màu hồng bám rêu nâu. Cũng không thấy cái làng nào có giếng nước đá ong xanh...
Bà sẽ còn đi tìm quê, tìm cho bằng được, dù phải tìm đến cuối đời…Đấy là cuộc đi kiếm tìm nguồn cội của mỗi con người…
***
Trở lại Sài Gòn, nàng kể câu về người đàn bà chăn vịt với sư phụ. Sư phụ cười:
– “Hay, hay viết đi! Người đàn bà chăn vịt đi tìm quê. Cây đa, cái giếng đá ong xanh, cổng làng đá màu hồng bám rêu nâu, đi tìm nguồn cội. Hay đó!”
Sư phụ nàng đốt một điếu Cu Ba (ổng vẫn gọi cái xì gà to bằng ngón chân như vậy), phả khói mù mịt, ngồi lặng thinh...
***
Nàng mua tập giấy mới để lấy may, rồi dàn dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật... Nghĩ tới một ngày sẽ thấy Người đàn bà chăn vịt được in trên tờ Văn Học lớn của ngôi đền văn chương mà nàng từng ao ước...
Đang cắm cúi viết, bất ngờ, nàng thấy một truyện ngắn tựa Ngàn Giạ nằm chình ình trên trang nhất tờ báo nàng từng mơ ước. Nàng đọc và nhận ra tất cả những gì nàng kể với sư phụ: người đàn bà chăn vịt, cái giếng nước đá ong xanh, cổng làng đá màu hồng bám rêu nâu... Nhưng truyện lại ký tên lạ hoắc Trần Nhân Văn, không phải là bút danh nào của sư phụ mà nàng biết.
***
Quỳnh Trang qua nhà sư phụ, quyết làm cho ra lẽ...
Nàng ngạc nhiên khi sư phụ chịu đựng cơn tức giận của nàng với thái độ tỉnh bơ. Ổng lại châm một điếu Cu Ba, phả khói đầy phòng.
– “Chuyện đó đúng là tao viết theo lời mày kể. Tao cho họ mất rồi. Mày có viết, có đăng thì cùng lắm được chút nhuận bút năm trăm, một triệu là cùng. Không gì bằng tình bạn văn đâu con ạ. Họ cần mà mấy bữa nay đầu tao u mê chẳng nghĩ ra được cái gì mới. Đành lấy truyện của mày vậy! Làm nghề văn đôi khi cũng nên xả bỏ...”
– “Dạ. Con xả bỏ. Con không tiếc cái cốt truyện sư phụ lấy, nhưng con tiếc, rất tiếc vì sư phụ làm hư nó...”
– “Tao làm hư chỗ nào?”
– “Sư phụ viết: người đàn bà khi lớn nghe bà Năm hàng xóm kể làng mầy có cổng đá hồng phủ rêu nâu, giếng nước xây đá xanh, cây đa trăm tuổi... Nếu bả nghe bà Năm nói vậy, sao không hỏi ngay ở đâu để tới đó, mà phải đi tìm bốn chục năm?”
– “Ừ, đúng rồi, bậy thiệt... nhưng tao viết vội trong một đêm cho kịp giao, ai rảnh để ý mấy chi tiết nhỏ xíu đó.”
– “Nhưng cái chi tiết sai đó làm sụp đổ câu chuyện. Việc 40 năm đi tìm quê của bà chăn vịt thật ngớ ngẩn, dở hơi...”
– “Ờ, bậy thiệt! Đã biết quê ở đâu qua lời bà Năm còn đi tìm chi! Nhưng hôm trước mày kể sao nhỉ?”
– “Khi cha nuôi chết, ổng mới gọi bả lại: Ta không phải cha ruột con. Ta nhặt con ở chòi dưa, trong cái làng có cổng đá màu hồng phủ rêu nâu, có cây đa trăm tuổi, có giếng nước xây đá xanh...Cha bả nói tới đó thì tắt thở...”
Sư phụ vò tai:
– “Ủa, ra vậy! Thôi, kệ đi...”
- “Sư phụ còn sai chỗ này nữa?”
- “Chỗ nào?”
- “Ngàn giạ, Sư phụ biết ngàn giạ là bao nhiêu thóc không? Một giạ 20 kg, 1000 giạ là 20,000 kg thóc. Tính theo thời giá phải đền 7500 đ/kg, tức là 150 triệu đồng sư phụ. Trong truyện sư phụ viết người đàn bà móc túi đưa 1,5 triệu!”
- “Ủa! Lại sai! Mày biết rồi sư phụ mày rất ngu mấy vụ cộng, trừ, nhân, chia mà!...”
***
Quỳnh Trang không ngờ truyện Ngàn Giạ ít lâu sau được Hội Văn bút trao giải văn chương hạng nhất năm. Nhiều nhà phê bình coi đó là một truyện ngắn đặc sắc nhất của văn học nước nhà, vượt cả Chí Phèo, Vợ Nhặt...
Có ông còn khen đó là siêu phẩm hiện sinh, hậu hiện đại, sánh ngang Người xa lạ, Buồn nôn.
Trong một buổi hội thảo, nàng rụt rè góp ý:
– “Cái chi tiết tìm mẹ hơi phi lý...”
Liền bị chục ông phê bình làm cho sáng mắt ra:
– “Phi lý chỗ đó mới hay! Cô đừng hiểu theo kiểu thường tình. Phải có con mắt hiện sinh mới cảm nhận được!”
– “Tình trạng lỏng lẻo, giọng điệu thập cẩm là sự pha trộn ngôn ngữ nhằm phản ánh bản thể di động của nhân vật! Thiên tài là ở đó! Cô không viết được thì đừng đố kỵ, ganh tị!”
Mấy bạn văn của cô cũng lên giọng dạy bảo:
– “Không được nói vậy. Chỉ ra cái sai, cái vô lý làm chi. Như vậy chỉ làm “tổn thương” tài năng!”
***
Quỳnh Trang lủi thủi rời cuộc hội thảo. Nàng muốn thét lên rằng: Người bị tổn thương nhất là nàng, là hàng trăm người viết trẻ, là cái lâu đài văn chương bị hoen ố kia! Còn cái tay Trần Nhân Văn kia, hắn bị “tổn thương” gì!
***
Quỳnh Trang quyết định bỏ Sài Gòn. Nàng sẽ về lại thị trấn nhỏ quê nhà, bỏ luôn giấc mộng văn chương. Nàng ghé qua chào sư phụ lần cuối.
Ngạc nhiên, cửa phòng sư phụ xưa nay luôn để mở, bữa nay đóng kín, gõ cửa nhiều lần không thấy sư phụ lên tiếng. Chỉ khi nàng hét lên: “Sư phụ, con Quỳnh Trang đây!”, mới có tiếng bước chân lê trên sàn gỗ, cánh cửa mở ra, sư phụ đứng đó trông già đi chục tuổi, hai tay ôm ngực ho rũ rượi.
– “Sư phụ sao người thảm đến thế này?”
– “Có lẽ ta sắp chết! Chết vì ho…”
– “Không lẽ sư phụ cũng bị bệnh lao như văn nhân Thạch Lam?”
– “Ông ấy bị lao vì đói ăn. Ta thì đâu có vậy! Chẳng qua mấy bữa nay đọc bài chúng khen Ngàn Giạ ta sinh ra thế. Ta ho đến rách họng mất rồi!
– “Đến nông nỗi này sao sư phụ!”
– “Cái chỗ ta vì buồn ngủ nên câu trên câu dưới nhảy lung tung, nay chúng bảo là ‘cách viết phân mảng’... Làm ta ho đến tối mắt, tối mũi... Cái chỗ ta vì vội, cẩu thả, nên nhầm lẫn, chúng khen ‘sự hỗn độn của ngôn ngữ’ là sự biểu đạt của văn chương hậu hiện đại, ta lại ho đến rách cả họng...”
– “Mà sư phụ này! Sư phụ người Nam, sao nay đổ đốn pha phương ngữ Bắc vô làm chi?”
– “Phải của ta đâu, tại cái tay Trần Văn Nhân chết dấp kia hắn lại đi tôn một gã Bắc làm thầy. Cái ông thầy ấy bày đặt sửa văn ta nên mới vậy! Thầy với bà, ta viết sai cả một đống lỗi, cái cốt truyện sụm bả chè thì không thấy để chỉ ra, để sửa cho trò, bày đặt đi sửa văn!”
– “Thôi! Bỏ đi sư phụ! Hãy giữ sức khỏe!”
Bất ngờ, sư phụ nàng gập cả người xuống, hai tay run run cầm lấy tay nàng:
– “Ta có lỗi với con. Nghiệp viết giúp của ta bị quả báo rồi. Có chết cũng đáng lắm! Ta rất hối hận vì đã làm hỏng cái truyện ngắn rất hay của con!”
-“Con quên chuyện đó rồi sư phụ. Cái sự phụ nên hối hận là sư phụ đã làm ra đống rác để tên bất lương Trần Nhân Văn mang ập lên đầu hàng ngàn văn nhân, hàng triệu độc giả!”
-“Văn nhân ư. Đám đó cũng đáng đời! Chúng lại “bao dung”, chúng lại “không bận tâm”, “lo việc lớn” , chúng lại sợ “làm tổn thương tác giả” nên im lặng hết thôi!”
“Họ không nhát đâu sư phụ, họ đều có bản lĩnh, chỉ là cơm áo không thể đùa được!”
“Đúng rồi con. Cơm áo không đùa được đâu! Ta khuyên con nên mài nhẵn cái răng lương tâm, cái răng sự thật để nó không còn cắn con đau nữa. Con sẽ tiến xa trên con đường văn chương, cón sẽ có sự nghiệp hơn cả tay Trần Nhân Văn kia…Để rồi, ta liên hệ mấy trại viết, mấy cuộc hội thảo. Họ sẽ gọi…Tên con sẽ bừng sáng!...”
Rất khó khăn, Quỳnh Trang mới gỡ được tay sư phụ ra để từ biệt. Đi khỏi cổng một đoạn xa, nàng còn nghe tiếng ho xé cổ vọng ra từ nhà sư phụ.
***
Nàng về lại thị trấn nhỏ quê nhà.
Nàng mở tiệm nhỏ bán hoa tươi như mẹ ngày xưa. Nàng không bao giờ mua báo cũ để gói hoa, sợ con mình đọc mấy tờ báo đó lại đi theo con đường cũ của nàng…
Nàng gói hoa bằng giấy lụa, giấy bóng kiếng... tuy mắc hơn chút, nhưng thấy nhẹ nhõm, vì nàng không còn phải đọc những gì nàng không muốn đọc…