TIN TỨC
icon bar

Ẩn số ngôn từ trong tập thơ “Tìm trầm”

Người đăng: nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-21 12:11:12
mail facebook google pos stwis
400 lượt xem

LÊ ĐÌNH HÒA

Nhà thơ Vân Anh (tên đầy đủ Nguyễn Thị Vân Anh), hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viện Hội LH Văn học Nghệ thuật Nghệ An, nguyên là giáo viên dạy môn Văn Trường THCS Đặng Thai Mai, thành phố Vnh, tỉnh Nghệ An.

“Tìm trầm” là tập thơ thứ 12 của chị. Dù chỉ 27 bài thơ nhưng là 27 bài thơ đặc sắc, giàu giá trị nghệ thuật, 27 thông điệp về lẽ sống trên đời đang được nhiều bạn đọc quan tâm.

Mở đầu ta bắt gặp lời đề từ:

“Bóc dần vỏ bọc thời gian
Giữa đời ngậm ngải tìm trầm… Nghĩa Nhân”

Đó là tiêu chí, là hướng đích của “Tìm trầm”. Một “phu trầm” văn chương như chị thật đáng trân quý. Đi tìm ẩn số ngôn từ trong thơ chị là tìm cái hay, cái đẹp, là tìm hương thơm, tìm giá trị đích thực trong vận dụng ngôn từ của tác giả. Có điều ngôn từ bao giờ cũng phải nằm trong văn cảnh tức trong cấu trúc thi phẩm. Bàn về cấu trúc thơ, nhà ngôn ngữ học hàng đầu Việt Nam, cố PGS Phan Ngọc đã nêu rõ: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản”. “Tìm trầm” đã minh chứng cho điều đó. Đọc thơ chị, ta cảm nhận sự đột phá mới vốn dĩ tác giả đã trút bỏ lối mòn trong văn chương. Đọc 27 bài thơ đều mang dấu ấn cho thơ cách tân – thơ đương đại. Tâm thế của nhà thơ mang tâm thức dòng chảy suy tư về mọi vấn đề của cuộc sống. Chị đã khoác lên mình những chất liệu tân hình thức để sẵn sàng cho những ngôn từ ẩn ý khi nhẹ nhàng, khi tung hứng khác người, bắt nhịp thị hiếu của công chúng đam mê văn chương thời hiện đại. Bản chất thơ là sáng tạo tìm cái Đẹp dâng Đời, nhất là khi cuộc sống thời hiện đại thì văn chương cũng phải cập nhật phong cách hiện đại. Âu cũng là quy luật muôn đời cho mọi lĩnh vực không chỉ riêng nghệ thuật. Đọc “Tìm trầm”, mỗi bài đều là những câu hỏi đang đánh thức trí não người đọc. Đó là những tín hiệu nghệ thuật, những ẩn số ngôn từ. Đọc “Tìm trầm” không dễ cho độc giả. Thơ phải có sự “thách đố” và khi giải mã được ngôn từ thơ bỗng cảm hứng của ta thăng hoa đồng sáng tạo cùng tác giả. Đó mới là Thơ và Thơ hay! Đó là một đòi hỏi dành cho người sáng tác từ người thưởng thức nghệ thuật của mọi thời đại.

Có người nói thơ chị là thơ “bác học”. Có lẽ nên nói thơ chị là thơ trí tuệ. Bởi lẽ thơ hay là thơ kết hợp hài hòa, sáng tạo, sắc bén, sâu xa giữa ngôn ngữ và tâm hồn, trí tuệ của Người Thơ.

“Tìm trầm” đã có những thành công về tính hình tượng và tính tổ chức cao (tính nghệ thuật). Thơ chị đa thanh – đa hình – đa dạng… trong hầu hết “Tìm trầm”.

Trong tập thơ có nhiều bài nổi trội. Ta hãy đọc kỹ bài “Xứ Nghệ”. Một công trình được tạo dựng bằng chất liệu tâm khảm thao thiết tự hào của người con xứ Nghệ và sự triết luận thông tuệ kết thành mật ngôn thách thức độc giả khám phá. “Xứ Nghệ” như một nốt luyến láy được tác giả đưa vào đầu 5 khổ thơ để tác giả khai thác triệt để thủ pháp “lạ hóa” nhằm ủ men cảm hứng cho mọi đối tượng. “Lạ hóa” tạo sự tò mò, suy ngẫm cho thơ. Thơ chị không theo một thể loại nào. Có những bài không vần lại giàu âm thanh, nhạc điệu. “Lạ hóa” từ cách chấm câu, ngắt nhịp. Nhiều câu thơ được đảo ngữ nghe lạ mà hay: “Dòng đời trong đục thắt ngang lở bồi”, “Miên viễn mùa xanh Nhân Kiệt”, “Sưởi ấm giấc mơ người đàn ông lực điền”, “Hình hài cong dấu hỏi”… Có khi chỉ một sự ví von dân dã: “Sông Lam dải lụa xanh” đủ giúp người đọc cảm nhận nước sông Lam trong xanh bốn mùa. Có khi còn lấy sự vật thiên nhiên để bỏ ngỏ niềm hào sảng về xứ Nghệ. “Sao thái âm” là âm tính mát lành để chỉ sông Lam. “Sao thái dương” là dương tính đầy sinh khí chỉ núi Hồng Lĩnh. Hai sự vật tượng trưng để nói về vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Ta bắt gặp luôn hai tín hiệu nghệ thuật đối nhau tạo nên sự nhịp nhàng, cân đối, tăng giá trị biểu cảm cho thơ. Điệp từ, điệp ngữ, nội quá là cách bày tỏ nội tâm và sự chịu thương, chịu khó, một thân “nuôi già, dạy trẻ, tần tảo đảm đang của người phụ nữ xứ Nghệ khi đất nước có chiến tranh, tự “chiến đấu” với cảnh cô đơn khi đôi lứa xa cách giữa thì xuân xanh: “đổ lúa ra xay, đổ trấu ra xay, xay cạn đêm”… Bài thơ có dụng ý tôn vinh hai nhà thơ lớn của xứ Nghệ, của Việt Nam: Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, hai nhà cách mạng từng đi tìm đường cứu nước: Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh. Người đọc còn biết đến một xứ Nghệ từng là cái nôi thời kỳ nguyên sơ đồ đá: “Di chỉ cất bảo tàng/ Chiếc muôi múc canh bằng đá/ Vá nhọc nhằn tằn tiện của tiền nhân”. Phần cuối bài “Xứ Nghệ”, tác giả đã khéo dồn các từ ngữ vào những dòng thơ gần với thể văn biền ngẫu khi đọc lên ta nghe như những dòng thơ đối nhau. Câu kết khá nội tâm là người con ruột thịt xứ Nghệ “Nếu có kiếp sau/ Ta lại về xứ Nghệ đầu thai”.

“Đàn bà và chiến tranh”, thi phẩm xoay quanh hình tượng “sợi thanh xuân”, biểu trưng cho nhan sắc, sức sống mãnh liệt của tuổi xuân mà phải hy sinh cuộc sống mái ấm lứa đôi để cho chồng vì nước vì dân ra trận. Tác giả sử dụng điệp từ “sợi” kèm theo sau những tính ngữ: khát khao, nhớ, chờ, buồn đã chạm khắc chân dung nội tâm người đàn bà thời chiến ở hậu phương. Thơ mang hơi ấm dân ca ví giặm càng tăng giá trị biểu cảm. Sự chịu đựng hy sinh của những người vợ càng đẹp hơn khi họ nuôi niềm tin chiến thắng ở chiến trường xa. Giọt nước mắt không chảy xuôi mà “lặn vào trong lóng lánh”. Nhớ, buồn mà không bi ai, sầu não! Trong “Giọt đau” nhiều câu không có chủ ngữ nhằm gây sự tò mò. Hai từ “Giọt đau” vừa là tựa đề vừa là hình tượng nghệ thuật xuyên suốt tác phẩm, làm trung tâm cho ý tưởng bài thơ khi được dùng làm từ điệp. Tác giả lại dùng từ “giọt đau” vì đó là giọt đau thương chảy từ trái tim người thân của các liệt sĩ. Giọt đau “nức nở” khi mọi người đứng trước những nấm mồ hy sinh vì nghĩa lớn. Không chỉ chảy trên trần gian mà còn “chảy dưới những nấm mồ gió, đáy sông, đáy biển, đáy hồ…”. Còn gì mất mát đau thương hơn nữa! Và những từ điệp tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật xúc động tâm can độc giả, mà trước hết được vắt ra từ nội tâm nhà thơ “Giọt đau đong đầy/ Chảy vẹt bình minh/ Chảy mòn hoàng hôn”. Những từ chỉ thời gian nối tiếp gia tăng dòng chảy liên tục của nội tâm lẩy ra hình thức biểu đạt. Những bài thơ giàu hình tượng như  “Thơ tình mùa thu viết trước đền Chín Gian” chắc hẳn những người con dân tộc Thái quá ngưỡng mộ, quá tự hào với huyền thoại Tổ phụ Tào Lò Ỳ và người con gái của Trời – nàng Xỉ Đả. Những câu thơ tình ta nghe rủ rỉ, thoảng mơ hồ mà hút hồn khi đứng trước ngôi đền Chín Gian huyền thoại ở huyện Quế Phong – tiêu biểu cho mảnh đất nhiều danh lam thắng cảnh và con người cần cù, nhân hậu miền núi Tây Nghệ An.


Nhà thơ Vân Anh

Ở một không gian mênh mông biển cả ta lắng nghe nhà thơ đang “Độc thoại trước biển”. Một bài thơ độc thoại nội tâm của tác giả rất độc đáo. Thơ mang dòng ý thức tựa văn xuôi. Nhà thơ có tầm nhìn xa và sự liên tưởng logic khi nhìn biển không quên từ nguồn… Thủ pháp nhân hóa, tượng trưng đã biến những sự vật vô tri thành tâm tư con người. Những ngôn từ đầy “thi tính” kết hợp điệp từ được tác giả vun vén tạo nên những tín hiệu nghệ thuật đắt giá. Nếu như phần đầu tác giả với giọng điệu ngôn từ rủ rỉ, nhẹ nhàng thì ngược lại ở phần sau là giọng điệu gấp gáp, hứng khởi. Từ điệp “có” và “cho” theo sau là những từ gợi tả tạo sự dồn dập, nín thở cho những dòng nước từ nguồn đổ về xuôi. Không phải tự nhiên mà có biển. Mà từ “Thác dữ dội, cuồng say”, “Suối dịu dàng, lãng mạn”, “Sông nhẫn nại, từ tâm” mới có biển “Nhân hậu, bao dung nuôi lớn con người”. Mỗi sự vật là mỗi chủ thể được gắn cho những cử chỉ, động thái, đức tính sát thực, tác động vào thị giác, thính giác để từ trực cảm đến tâm cảm nhằm cuốn hút người đọc. Một bài thơ “có hậu” nhất là ở câu kết tác giả đã dùng từ “thanh lọc” trước cảnh tượng mênh mông nước là khá tinh tế. Lọc “nước đục” để có “nước trong”, từ đó rút ra triết lý sống: cuộc sống như là biển lớn – mỗi cuộc đời phải biết tự thanh lọc mình, biết “gạn đục khơi trong” dành cho mình sự “trầm lắng” như những viên ngọc trai của tâm hồn, trí tuệ và nhân cách cao đẹp dâng đời.

Chắc hẳn ta sẽ tâm đắc với “Trái tim thức giấc”, bài thơ mang theo mình bóng dáng vừa hiện thực vừa siêu thực cùng những vấn đề mà chị trăn trở. Đọc “Trái tim thức giấc”, ba tín hiệu điệp ngữ “Ta ngủ yên rồi…/ Ta ngủ yên…”. Một kết cấu hai vế khá hay: “Ta” đứng đầu ba khổ thơ “Ta ngủ yên rồi – Ta ngủ yên – Ta ngủ say. Và cặp thơ sau “Người” đứng đầu câu với lời hỏi “Sao” là cách đặt câu hỏi tu từ có giá trị khẳng định. Ta-người ví như một cặp lứa đôi trữ tình để chở tải sự đánh thức tiềm lực sáng tạo hoặc ngủ yên – hoặc bị trói buộc – hoặc tự an bài. Ta lại gặp một kết cấu hình tượng lạ, sáng tạo. Nỗi trăn trở có khi dằn vặt, bức xúc về một xã hội đang lên thì những ngang trái đáng báo động trong bài “Bóng âm”. Bóng âm là nhân vật chỉ những “đứa con lỗi gen tư duy”, “đi trước cản đường”. Nguy hiểm hơn nó trở thành vật cản bánh xe lịch sử đi lên phía trước. Bởi sự tàn bạo “vung gươm sát phạt” những thành quả của cuộc sống dân lành, khi “cái mới đang dâng hương sắc”, “đang dâng quả ngọt lành”… Và tác giả đã lên án đó là “khối u ác tính” âm thầm hủy hoại những “Trí tuệ – tâm hồn – nhân cách” của con người. Và nhà thơ đã đặt ra một câu hỏi lớn trước mọi thời đại về sự nương tay cái xấu, cái ác: “Sao nhân loại chần chừ? (!). Bài thơ “Trăn trở” như bỏ ngỏ bao điều mà mọi người cùng trăn trở… Tác phẩm có tính triết luận sâu sắc nên có khả năng khái quát cao về một thực trạng xã hội đáng báo động đỏ. Với “Trăn trở “, tác giả đã dùng một loạt hình ảnh ẩn dụ có giá trị biểu trưng: “Đó là thói kiêu ngạo, tự phụ qua so sánh “những ngọn núi lè tè tự phong là chót vót”, “những ao hồ tù đọng tự bão hòa”. Đó là sự giáo điều, rập khuôn trong tư duy “như những đường ray” đã “hoen rỉ tư duy định vị”, đó là những “vòng kim cô giáo điều tự ấn lên đầu làm khuôn mẫu”. Đó là những rô bốt người lắp ráp đồng loạt thiếu bản ngã trí tuệ, bản ngã tâm hồn và bản ngã nhân cách “Những phẩm cách dàn hàng ngang đồng phục/ Những dấu vân tay bản ngã nhạt nhòa”. Và đỉnh điểm của nỗi trăn trở biểu đạt trong 2 hình ảnh ẩn dụ đối lập để tác giả gửi thông điệp khẩn cấp cho bạn đọc: Sự sáo mòn sẽ “khai tử” mọi sự sáng tạo từ trong bào thai: “Gió sáng tạo mang hùng khí lạ/ Sợ thổi lạc loài giữa sa mạc sáo mòn”.

Cùng bộc lộ nội tâm trăn trở ấy nhưng ở những khía cạnh khác. Đó chính là trăn trở trong bản thể của mình khi độc thoại về nghiệp thi ca. Nhà thơ coi thi ca là nhu cầu tự thân để ký thác cách cảm, cách nghĩ, cách kiến giải những gì mình đã nếm trải, chiêm nghiệm. Làm thơ là bởi “Trong cuộc đời bao điều không thể nói/Đành ngồi cầm bút viết ra lời”. Nhưng trước khi là nhà thơ, chị là một nhà giáo, một trí thức chị không ảo tưởng về mình. “Chẳng dại dột nhận mình là thi sĩ của ngày mai” vì tác giả hiểu rõ “bởi xác tín điều này là… độc giả Tương Lai”. Tự nhận thức về bản thân là hành trình cam go của nhân loại. Sự sáng tạo nói chung và sự sáng tạo trong thi ca nói riêng thường là tỷ lệ nghịch với tuổi tác. Và đây là một sự thẳng thắn đối diện và cũng là một sự khích lệ mình của nhà thơ: “Khi tuổi đời mùa thu mấp mé/ Sự Sáng Tạo là đứa con khó đẻ”.

Nhà thơ coi thi ca là nhu cầu tự thân để ký thác cách cảm, cách nghĩ, cách kiến giải những gì mình đã nếm trải, chiêm nghiệm. Làm thơ là bởi “Trong cuộc đời bao điều không thể nói/Đành ngồi cầm bút viết ra lời”.

Đi “Tìm trầm” – tìm Nghĩa Nhân trên đời với chị sao có thể quên công lao dưỡng dục của đấng sinh thành. Một bài thơ thật xúc động khi nói về cái nôi Phuống và công lao cha mẹ đã nuôi dưỡng mình từ thuở nằm nôi. “Mùa tuổi” đã nói thay cho chị. Mở đầu là Phuống – một địa danh quen thuộc và nổi tiếng bên bờ sông Lam. Thật thú vị khi tác giả mở đầu một câu thơ lạ: “Sông Lam chạy từ thượng nguồn mỏi chân dừng nghỉ”. Ờ, sao không tả con sông “chảy” mà lại là “chạy”?. “Chạy” mới hợp với “mỏi chân” và có “dừng nghỉ” mới “ngồi” từ đó ta hiểu mới có lắng đọng phù sa, từ đó mới hình thành bãi bồi lâu thành làng tên Phuống – nơi nữ sĩ “giấu núm ruột thơm hương cây trái” vào lòng đất mẹ. Những từ “đắt”: “Chạy”, “mỏi”, “dừng”, “ngồi” tạo nên một hệ thống hình ảnh “nhân hóa” tạo ra trường ngữ nghĩa tải thông điệp tình yêu gia đình, làng quê, cội nguồn của tình yêu tổ quốc… Làng Phuống đi vào bản đồ văn chương và nơi đó, nữ sĩ Vân Anh chào đời: “Chuồng hối gọi bầy gà/ Mẹ chộn rộn cơn đau/ Vỡ òa…Ta”. Từ bản đồ văn chương để hậu thế biết có địa danh thơ mộng hữu ngạn sông Lam, ghi ân nghĩa với một làng quê cổ kính, với công lao sinh thành dưỡng dục của mẹ cha: “Sữa mẹ thơm mùi phù sa”, “Thơm vị nhút, tương, cà/ Thơm trí tuệ câu dân ca ví giặm”.

Câu thơ cuối “Mùa tuổi” cứ đọc lại cảm động khi nghĩ về cha mẹ nay khuất bóng nỗi tâm mình bỗng là “Từ ngày cha mẹ về trời/ Ta ngồi dệt áo mồ côi… bốn mùa”.

“Tìm trầm” – tập thơ hướng thiện, có giá trị nhân văn cao cả và sâu sắc. Đi tìm và ca ngợi tình người ở nhiều góc độ từ gia đình đến xã hội, đồng thời lên án những kẻ vô cảm không chút tình người đang chà đạp lên cuộc sống. Là khát vọng một cuộc sống bình yên đánh thức mọi tiềm năng dâng đời theo thời gian. Là nỗi trăn trở về những điều lỏng lẻo, trái khoáy trong kỷ cương phép nước trên nhiều bình diện. Tất cả cho con người, cho mọi thời đại. Đọc “Tìm trầm” là đọc triết lý cuộc sống thông qua văn chương. Là những thông điệp về lẽ sống và tình người bình dị mà cao đẹp.

“Tìm trầm” đã thành công lớn trong thi pháp ngôn từ. Tác giả đã mạnh dạn, táo bạo kiếm tìm trong kho từ vựng đồ sộ để thu vén, chắt lọc, sáng tạo nên kho ngôn từ của “Tìm trầm” cho riêng tác giả với sự đa dạng – đa thanh – đa chiều mang dấu ấn riêng. Đặc biệt mọi chất liệu nghệ thuật được ẩn dụ – tượng trưng – lối điệp – so sánh và đặc cách cho thủ pháp “lạ hóa” nhằm nâng tầm tính hình tượng – một đặc trưng cơ bản của thơ nhằm đánh thức trí não người đọc. “Tìm trầm” không lệ thuộc vào thể loại mà viết theo dòng cảm xúc. Thơ “Tìm trầm” không từ trực giác mà từ tâm thức. Thơ dòng ý thức – lối thơ mang dấu ấn thơ trình diện. Chất liệu tân hình thức và chất liệu nhảy vọt tạo cho tứ thơ lạ – bí ẩn. Thơ “Tìm trầm” hòa dòng chảy thơ đương đại mà đối tượng thưởng thức nghệ thuật ngày nay đang đòi hỏi. “Tìm trầm” đã phần nào đáp ứng kịp thời và bức thiết cho độc giả đương đại!

(Bài đăng trên tạp chí Sông Lam số 28, tháng 10/2022)

 

 

Bình luận

Để lại comment

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lê Văn Nghĩa trong cõi nhớ Sài Gòn
Hai cuốn truyện trào phúng về điệp viên Không Không Thấy – một nhân vật hấp dẫn của Lê Văn Nghĩa – vừa rời bàn biên tập để đưa tới nhà in. Một luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tác phẩm của anh cũng đang triển khai. Vậy mà Lê Văn Nghĩa không chờ được, đã vội ra đi…
Xem thêm
Để người với người mãi yêu nhau
Với Nguyên Hùng đây là tập thơ thứ sáu, với tôi lại là thi phẩm thứ hai được nhà thơ tặng sau “102 mảnh ghép văn nhân” mà tôi may mắn được tác giả cho góp mặt, dù lúc đó tôi chưa gặp người bạn văn chương này mà chỉ mới biết nhau qua Facebook.
Xem thêm
Sài Gòn ơi! Đau đáu một nỗi niềm
Rất nhiều “mĩ từ” dành cho Sài Gòn trong những ngày nơi đây trở thành tâm dịch Covid-19: “Sài Gòn đau”, “Sài Gòn bệnh”… riêng tôi lại cảm nhận một nỗi niềm lo lắng không yên, bởi nơi đó tôi có nhiều người thân thương ruột thịt, nhiều bạn bè và cả những người tôi không quen nhưng cảm nhận về sự thân thiện và cởi mở của “người Sài Gòn” đã khiến lòng mình đau đáu… Sáng nay, vẫn những con số, hôm qua và những ngày trước vẫn những con số, những hình ảnh, những khu phố giăng dây… Em tôi nói, em đã phải đi xét nghiệm đến mấy lần mỗi khi nơi em ở có người nhiễm bệnh Covid-19. Bất chợt bắt gặp bài thơ “Gửi Sài Gòn” của nhà thơ Từ Kế Tường, tôi như bắt gặp sự đồng cảm, nỗi niềm.
Xem thêm
Ðạo thơ hay dụng điển?
Lâu nay, “đạo” văn “đạo” thơ vẫn là một câu chuyện dài bất tận không có hồi kết. Những câu hỏi luôn được đặt ra là: Thế nào là “đạo” (văn, thơ)? Ðâu là giới hạn của việc sử dụng sáng tạo những thành quả của ng
Xem thêm
Văn chương: Ðạo và không đạo?
Những bức tường như số phận chúng ta, bài thơ sáng tác năm 2019 của Thanh Thảo (Viết và Đọc mùa Đông 2020), với lời đề từ bằng câu thơ của Nguyễn Thụy Kha Nhìn tường nhà chúng ta từng ở lở lói. Buồn lạ. Thi sĩ cảm hứng từ câu thơ của người khác, tạo ra một không khí những bức tường hữu hình và vô hình của đời mình, riêng mình. Bức tường thời gian, và giới hạn…
Xem thêm
Yêu như là biển nhớ một mùa trăng
Tôi biết đến thơ Nguyên Hùng thật tình cờ qua âm nhạc của Lê An Tuyên. Và thơ anh, cứ thế cuốn tôi đi, qua những bến bờ yêu như biển chiều gợi nhớ, tựa đêm trăng lấp lánh, sóng xôn xao...
Xem thêm
Trời triệu năm cứ xanh - Mây triệu năm cứ bạc
Thơ Nguyên Hùng đằm thắm và duyên.
Xem thêm
Nguyên Hùng với ‘108 đoản khúc thơ’ không rủ yêu mà ai cũng say đắm
Thơ bốn câu lời ít ý nhiều, sâu xa, có khi gây bất ngờ cho cảm xúc người đọc, đang được nhà thơ Nguyên Hùng khai thác triệt để.
Xem thêm
108 đoản khúc thơ Nguyên Hùng
Thơ là tiếng nói tình cảm, tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo
Xem thêm
Những quả thơ của Ngọc Lê Ninh
Thực tế sáng tác thơ ca cho thấy, với một tác giả bất kỳ, tập thơ ra sau chưa hẳn đã vượt được “cái” ra trước.
Xem thêm
Dấu chân lục bát lần về nẻo yêu
Nếu ở ba tập trước Thơ Nguyên Hùng đa dạng với nhiều thể loại và được mở rộng với nhiều chủ đề từ tình yêu quê hương đất nước đến cảm thông với mỗi phận người đã từng quen thân,
Xem thêm
Bài thơ tôi yêu thích
Trước mùa nước đỏ sông Tiền, trước cuộc sống lam lũ vất vả của người dân nơi miệt đồng bằng Cửu Long, trái tim tác giả lại nhớ về một nơi xa lắm, nơi mà sông Hồng dâng trong ngực,
Xem thêm
Sóng không từ biển, sóng từ lòng anh
Tôi chưa gặp Nguyên Hùng, chỉ được đọc anh trên trang blog.
Xem thêm
Vẻ đẹp đàn bà trong thơ Trần Mai Hường
Mây mưa với chữ (NXB Hội Nhà văn, 2020) là tập thơ thứ 8 của nhà thơ Trần Mai Hường.
Xem thêm
Nồng ấm tình quê trong Tết lạnh xứ người
Tết này em có lạnh khôngHai mươi năm vẫn mùa đông xứ người
Xem thêm
Tình yêu mang phận cỏ và những khắc khoải tận cùng xanh
Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ nói cho cùng, là tập thơ của những khát vọng được níu giữ, được đáp đền.
Xem thêm
“Thế giới xô lệch” và những góc tiếp cận
Đến nay (2019) Thế giới xô lệch của nhà văn Bích Ngân đã xuất bản được 10 năm (tháng 12.2009
Xem thêm
Hoàng Quỳnh Anh: Viết về bạn bè, nhưng anh lại nói đúng con người mình!
Tôi biết Nguyên Hùng mới 3 năm. Nhưng như người ta nói: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”
Xem thêm
Sóng trong thơ Nguyên Hùng
Mời quý vị và các bạn đọc bài viết ngắn của nữ nhạc sĩ về tập thơ Sóng không từ biển là tập thơ cùng tên với ca khúc của Lê An Tuyên – Nguyên Hùng.
Xem thêm
Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao - dân ca Nam Bộ
Ca dao Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung, là những tượng đài bất hủ về tâm hồn, trái tim, tài năng của nhân dân.
Xem thêm