- Nhà văn & Góc nhìn
- Có một cựu chiến binh - nhà văn mang tên Châu La Việt
Có một cựu chiến binh - nhà văn mang tên Châu La Việt
LÊ HUY HÒA
Rút từ cuốn "Lạc vào cõi sách" Nxb Thế giới, 2026 (2 tập)
Cách đây không lâu, tôi có đọc bài viết “Có người lính binh nhất tên Hoài” đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội (báo điện tử). Tôi hồi hộp dõi theo mạch viết của Nhà báo, nhà thơ Mai Nam Thắng, phần vì bài viết có gợi nhắc về cái tên mà tôi từng quen là Hoài… Tác giả bài viết từng là phóng viên chuyên trang văn hóa, văn nghệ báo Quân đội nhân dân.
Phải nói là rất hấp dẫn, lôi cuốn. Đọc bài viết, tôi biết anh mới gặp Lê Khánh Hoài trong một chuyến “trở về nguồn (cách gọi những chuyến trở về miền kí ức của những người lính trận…), tôi cảm thấy như cũng được là người theo chân các anh vậy. Một cách viết chân dung hết sức tung tẩy, khoáng đạt, nói được nhiều điều mà thế hệ những người “xếp bút nghiên ra trận” như chúng tôi mong muốn ghi lại,… Và như chẳng đặng đừng, tôi muốn noi theo anh ghi lại những khoảnh khắc sống đã qua cùng nhân vật của anh, mà lại là người bạn từng có những năm tháng chưa xa sống đời sống sinh viên sau ngày rời quân ngũ về học đại học, nối nửa phần đời sau với đoạn đầu đời lính của nhân vật trong bài viết kể trên! Như vậy, biết là với tài mọn của mình là quá tham???, nhưng tôi có sự tự tin nhất định vì cá nhân mình sống thật, cảm xúc thật,, tìm về kí ức thật… và tương tác được với nhân vật, chưa cần dựa vào tưởng tưởng… Tôi cảm thấy yên tâm, bài viết về người lính binh nhất tên Hoài tôi nhắc ở đoạn trên bài viết này, đoạn đời đầu hay thế, hy vọng sẽ “gánh “luôn phần bài tôi viết sau… Và xin phép nhà thơ, cho lấy lại tên bài viết (bài này gọi nhân vật theo bút danh), để khắc họa về nhân vật của anh, của tôi, nhằm thêm những hiểu biết về con người tài hoa, giàu nhiệt huyết cả trong tư cách người làm báo, viết văn: Nhà văn, Cựu chiến binh tên Châu La Việt.
1.
Tôi là người lính cuối cùng của lớp Văn 4B (tên miền, trang Zalo của lớp đặt sau này), Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Nói “cuối cùng” vì sau tôi, không còn anh” bộ đội” nào về sau nữa. Tôi về đầu năm học (1976 - 1977), vào thẳng năm thứ ba, vì lúc nhập ngũ, tôi đã học hết kì 1 của năm thứ ba (12/1971). Trong lớp, rất đông bộ đội phục viên, dễ nhận ra bởi ai cũng “già hơn” tuổi, da người nào cung mai mái, lại vẫn hàng ngày vận quân phục - một màu xanh của lính. Không khí lớp rất vui, cả thời gian trên lớp và trong kí túc xá. Tôi là dân ngoại thành, nên đăng kí ở khu nội trú, dãy nhà cao tầng ngoài cùng, với cái tên: nhà A. 7, Khu nội trú Khoa Ngữ Văn. Khu nhà cao tầng số 7 này tọa lạc sát với Khu nhà vệ sinh công cộng (A. 8- theo cách gọi của sinh viên những năm ấy), sát hàng rào, chỉ giới của Trường với cánh ruộng của địa phương. Cánh sinh viên khoa bạn vẫn thường trêu chọc chúng tôi là cư dân của khu A8 (A7 + nhà xí công cộng = A8)! Chúng tôi chẳng thấy có chút ngại ngùng và cũng không thấy “mặc cảm”. Chỉ biết, khu chúng tôi ở, ngay đầu nhà có một bể chứa nước không có mái che, quanh năm nước luôn tràn miệng bể, đối với khách, hoặc người nhà đến chơi, dễ tìm. Với những người am hiểu về phong thủy, luôn tính là điểm (+), chưa kể, ở vị trí này, những khi sinh viên đi chơi về trễ, vẫn có thể từ ngoài đồng vượt tường về mà không cần qua cửa kiểm tra chính trước cổng trường! Tôi viết có chút dông dài ở đây, vì nhân vật của tôi, có lẽ là người được hưởng lợi nhiều nhất từ vị trí đắc địa nhất trường này trong cuộc đời sinh viên của mình vì suốt khóa học, anh là người “đi sớm về khuya” kỉ lục trong số sinh viên nội trú chúng tôi.
Tôi là người về sau nên xem ra được nhiều người để ý, chắc vì từng là phi công. Cánh trẻ, sinh viên từ bậc học phổ thông vào, xem ra thiện chí, thân thiện hơn - tôi cảm nhận được trong cung cách ứng xử, quan tâm từ những việc nhỏ nhất như nhường chỗ ngồi trong lớp học, nhường lượt xếp hàng chờ nước sinh hoạt chỗ vòi xả nước ở bể nước công cộng… Sau này, khi đã quen biết, tôi hiểu thêm, họ nể trọng chúng tôi, những anh bộ đội phục viên về học, vì các anh đã làm một cuộc “cách mạng” không khoan nhượng với đội quân “cờ đỏ” của lớp, của khoa, một “tổ chức” tự quản được lập ra, luôn áp chế về kỉ luật, giờ giấc và nhiều quy định khắt khe khác đối với các sinh viên. Từ ngày đón các anh về, cánh sinh viên trẻ cảm nhận dễ thở và cuộc sống mỗi ngày thấy đáng yêu, dẫu còn nhiều khó khăn vì đất nước vừa ra khỏi chiến tranh! Còn các lính cựu (chỉ bộ đội xuất ngũ về học) xét nét hơn. Cái chính là họ chờ coi học lực và sinh hoạt riêng tư của người “mới” thế nào (trong lớp đã có những cặp trai gái hẹn hò, yêu đương, người sau biết đâu lại là người thứ ba trong sự cảnh giác!?). Những ngày đầu của đời sinh viên của tôi trôi đi lặng lẽ.
Một lần, trong phòng ngủ của chúng tôi (thời ấy sinh viên ngủ giường tầng), vào một buổi tối, thấy một anh bạn trạc tuổi tôi, có đôi mắt to tròn, ánh nhìn có tia sáng, và thật ấn tượng là chính ở đôi tai Phật của anh, trên môi ngậm điếu thuốc, vừa mới ở ngoài về, đến bên tôi, gật đầu chào, một chỉ dấu làm quen (người này, suốt cả tuần tôi chưa gặp), đưa tay về phía tôi, siết chặt. Qua màn tự giới thiệu, tôi biết tên anh là Lê Khánh Hoài, bộ đội xuất ngũ về theo học từ năm thứ nhất. Liền ngay sau đấy, anh này chỉ tay về phía tôi đang ngồi, nói: Này ông bạn mới, ta đổi giường cho nhau nhé, tôi xuống ngủ tầng dưới, ông lên trên, như thế cho tiện, vì buổi tối tôi thường về muộn, dễ làm ông thức giấc! Giường chúng tôi kê sát cạnh cửa sổ nhìn ra phía hàng rào, cánh đồng. Tôi thấy có lí, nên không có ý thắc mắc (trong việc này, tôi cũng là người chịu trận về sự dễ dãi sớm này của mình: Cả thời gian học, tôi thường bị đánh thức vì anh bạn về muộn, thò tay lay bàn chân tôi phía đuôi giường, cảm phiền dậy ra mở cửa). Bữa ấy, sau vài câu chuyện làm quen, sau cùng anh nói nhỏ, đủ hai người nghe: ông chú ý cất quần áo khi phơi, vì áo ông mặc đang là mốt, dễ mất đấy (áo tôi mặc là loại áo bludong, loại vải coton ngoại, màu vàng chanh cấp cho lính bay học ở Liên Xô). Điều anh bạn “cảnh báo” thật không thừa, trước đó tôi cũng “chia tay” hai áo trong giờ phơi buổi trưa trên sợi dây thép căng dọc trần nhà, dây dùng mắc màn, dù áo chưa kịp khô. Tôi thầm cám ơn và thấy có gì đó gần gụi và thực tế từ lời nhắc của anh bạn mới quen…
2.
Gần hết học kì 1 của năm học, hầu như tôi rất ít được gặp anh bạn tên Hoài cùng tổ, cùng lớp, cùng… giường này, bởi giờ sinh học của anh không cùng với cánh sinh viên chúng tôi. Anh thường về muộn, lên lớp chỉ cốt điểm danh xong là “chuồn”. Ban cán sự lớp thấy sinh hoạt của tổ viên như vậy là vi phạm nội quy, nhưng cũng được cho qua như một “ngoại lệ”, cũng phần vì biết đóng góp không đong đếm được của Hoài không chỉ với lớp, với Khoa, mà còn với cả Trường nữa. Thời ấy, giới văn nghệ sĩ, người làm quản lí văn hóa cả thành phố này, không ai không biết tên anh! Anh không có xe đạp, chiếc xe tôi mang từ đơn vị về, vì ở nội trú nên ít sử dụng, nó biến thành xe của anh tự lúc nào tôi cũng không nhớ. Nhưng điều khác lạ, là vào các chiều thứ bảy cuối tuần, anh không dùng xe, bởi anh biết, vào ngày này tôi hay đạp xe về quê. Điều đặc biệt, dù thường xuyên vắng mặt trong các giờ học trên lớp, nhưng kết quả thi học kì, thi cuối năm, Hoài thường đạt điểm cao, điều mà ai cũng nể phục. Tôi nhớ, điểm thi của anh có lẽ chỉ thấp hơn hai người, cùng khóa, học bên lớp Văn I, cũng là lính trở về là sinh viên, cựu chiến binh Trần Đăng Suyền (sau là Giáo sư, Tiến sĩ) và Trần Duy Thanh, một thầy giáo luyện thi môn Văn có tiếng ở Thủ đô! (Cả hai sinh viên này, sau khi tốt nghiệp, đều được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy). Chuyện này, riêng tôi không thấy ngạc nhiên. Kết quả thi của anh không hề ngẫu nhiên, kiểu “học tài, thi phận” như ta vẫn hiểu. Anh là một người thông minh, có trí nhớ phi phàm, lại là dân viết báo, viết văn, một người từng trải…, có nghĩa, anh là người của “tiếng nói cảm xúc”! (ý nói người viết văn). Người ngoài đâu biết, mỗi kì ôn tập trước thi, chúng tôi thường được lớp tổ chức hội thảo các môn học thi - seminar nội bộ, viết thu hoạch, đề cương ôn tập các môn thi. Hoài thường nhờ tôi photocopy các tài liệu, đề cương ôn tập toàn bộ các môn thi. Tất cả những” kiến thức đóng chai” này, anh đều nhét vào trong chiếc túi vải “3 gang” của anh, trong đó có bản thảo các bài viết gửi đăng báo, tạp chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, truyền hình… Có đêm, tôi thấy anh che đèn, ngồi thiền đống tài liệu với một sự nghiêm túc đáng nể phục! Chuyện đến thư viện đọc sách, tài liệu, với anh là điều xa xỉ!
Kể về “chiến công” thầm lặng của Hoài trước tiên là cho Trường thật khó mà thống kê ra được! Hầu như các sự kiện lớn của trường từ khi có người sinh viên cựu chiến binh tên Hoài về tựu trường đều để lại dấu ấn: anh trực tiếp viết kịch bản sân khấu cho các Đội kịch của lớp, của Khoa, của Trường, do anh trực tiếp làm đạo diễn; mời các ca sĩ nổi tiếng, các ban nhạc đình đám của các đoàn nghệ thuât Trung ương về phục vụ. Các tiết mục văn nghệ không chuyên cá nhân, tập thể của các khoa tham gia Hội diễn trường, Bộ đều có các đạo diễn chuyên nghiệp về giúp dàn dựng, xây dựng các tiết mục… đoạt Giải cao. Các trận giao hữu bóng đá, anh mời cả các huấn luyện viên có “số má” về huấn luyện cho các đội tuyển của khoa, của trường. Bạn bè biết, Hoài từng là cầu thủ của môn túc cầu, một tiền đạo có triển vọng của Đội bóng đá trẻ Tổng cục Đường sắt trước khi nhập ngũ. Hoài còn là một bình luận viên bóng đá nhiệt huyết với những bình luận sắc sảo… Còn với khoa Ngữ Văn chúng tôi, ngoài những việc anh thường đóng góp trong sự kiện, anh còn mời các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng về giao lưu, đối thoại với sinh viên, góp phần bổ trợ thêm những kiến thức ngoài chương trình giảng dạy. Anh thành lập ra Câu lạc bộ thơ của khoa Văn, khơi gợi cảm hứng sáng tác nơi các bạn cùng khóa, các em ở những khóa sau, ra một tập san nội bộ. Ngay đến một cán bộ tổ chức của khoa, như thầy Phạm Văn Thanh người Thái Bình (chúng tôi vẫn xưng là thầy, dù không trực tiếp giảng dạy), chưa từng làm thơ, sau này trở thành một cây bút thơ nhiều triển vọng. Từ những bài thơ in lẻ đăng trên các báo Trung ương: Văn nghệ, Nhân dân, Tiền phong… Hoài giúp tác giả này tập hợp in thành tập thơ riêng. Nhiều năm sau, khi tìm lại được thầy, Hoài đã bỏ tiền riêng, in tặng thầy tập thơ thứ 2. (Nói riêng, các tập thơ đều được Hoài tài trợ in). Tập thơ in sau này, chính Nhà thơ Nguyễn Đức Quang, Phó Tổng Biên tập báo Thiếu niên Tiền phong, (một sinh viên khoa Ngữ Văn, thành viên Câu Lạc bộ thơ của Khoa, học khóa sau) viết Lời giới thiệu, in ở Nhà xuất bản Lao Động, H.2012. Từ đây, chúng tôi vẫn giữ mối liên hệ với thầy Thanh, nhà thơ, mãi tới bây giờ, khi thầy đã nghỉ hưu tại quê nhà… Thời bấy giờ, sinh hoạt của sinh viên còn nhiều khó khăn, anh khích lệ các bạn trong lớp (trong số này có Lê Huy Hòa, Lã Thế Khanh…) “viết những bài báo “người tốt, việc tốt” in báo, phát trên đài… kiếm thêm tiền nhuận bút trang trải cuộc sống. Riêng chàng sinh viên, cựu chiến binh Lê Khánh Hoài xem như đã trở thành “tác giả”, ngoài những truyện, kí, thơ in đều đăng trên các mặt báo, anh đã có thơ, kịch, truyện ngắn, kí in riêng ở các nhà xuất bản Trung ương, có thể kể tên các tập sách như: “Dưới tầng cây săng lẻ” (tập truyện ngắn), “Những bạn trẻ của tôi” (tập kịch), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân; “Trường Sơn của tôi” (tập thơ), Nhà xuất bản Thanh niên…
Có một điều, lần trở lại trường sau 6 năm nhập ngũ, tôi thấy có nhiều cái khác. Nhất là trong sinh hoạt. Các cặp đôi hẹn hò trong lớp, góp gạo thổi cơm chung - còn gọi là “Mối tình bếp dầu”; phòng tập thể nhưng giường ngủ được linh hoạt quây bằng các tấm rido, tạo thành góc học tập, hoặc khi cần cũng để biểu lộ tình cảm của đôi trai gái đang yêu! Những cặp yêu đương họ bộc lộ một cách tự nhiên, không e lệ, ngại ngùng. Tôi chỉ thấy cảm phục họ! Là một chàng trai có tài, Hoài cũng nằm trong thước ngắm của nhiều bạn gái trong trường, riêng trong lớp, tôi thấy anh dửng dưng, với các bạn gái, anh luôn tỏ ra nghiêm túc trong khi nói chuyện, cả trong các buổi sinh hoạt lớp. Sự nghiêm túc ở Hoài khiến nhiều bạn gái trong lớp cũng ngại, dù rất quý mến một người con trai lắm tài như anh. Cánh đàn ông trong lớp biết Hoài đã có cô bạn gái hoa khôi học bên khoa tự nhiên, là một nữ diễn viên múa trong đội múa của khoa. Dù sao cũng chỉ là lời đồn đại, chính Hoài không hề tiết lộ bất cứ thông tin nào! Hoài cưới vợ khi nào, trong đám bạn cùng lớp khóa ấy, chẳng ai biết...
3. Riêng tôi có vinh hạnh được bạn rủ về thăm trường của vợ anh vào dịp kết thúc năm học, một năm sau ngày ra trường. Tôi không quên chuyến đi lịch sử ấy. Chẳng là em Tùng (tên bà xã Hoài), nữ sinh khoa Hóa, cùng trường đại học, sau tốt nghiệp được phân công về Hà Bắc, dạy trường cấp 3 Yên Dũng, một huyện miền núi của Tỉnh. Tùng là ái nữ của một vị lãnh đạo ngành giao thông ở thành phố Hoa phượng đỏ, thông thường, ra trường, phụ huynh có thể sắp xếp cho con gái rượu về đấy dạy học, nhưng có lẽ bén duyên với anh chàng khoa Văn này, em theo sự sắp đặt của bạn trai. Có chút tò mò nhưng tôi ngại hỏi, vì chơi với bạn, trừ khi tự bạn nói ra, chứ tôi tuyệt nhiên không khi nào muốn biết xa hơn! Đấy là điều mà bạn “yên tâm” về tôi! Trước ngày đi, Hoài nói tôi mượn một chiếc máy ảnh, mua hẳn 2 cuộn phim màu chính mác Nhật. Hoài trao đổi, đi chuyến này, vừa về thăm vợ, vừa làm dịch vụ (bạn giải thích lên trường kết hợp chụp ảnh lưu niệm cho các lợp học cuối niên học).
Chúng tôi ra bến xe Bến Nứa (Yên Phụ, gần cầu Long Biên) mua vé xe ca đi Bắc Giang. Nhà xe chỉ còn vé chuyến cuối cùng trong ngày. Thấy Hoài có chút đắn đo, tôi nhìn bạn, nhưng sau cùng, Hoài vẫn quyết định lấy vé. Khi xe lên đến Bắc Giang cũng là cuối ngày, đèn trong nhà xe đã bật sáng, trong quầy vé không một bóng người, bấy giờ tôi hiểu sự đắn đo của bạn lúc ở bến xe Hà Nội. Như vậy, chúng tôi buộc phải qua đêm ở đây, chờ đến sáng mai mới có chuyễn xe về Yên Dũng. Ngày ấy, xung quanh nhà xe không có phòng cho thuê như bây giờ. Mà vào đặt phòng khách sạn, chúng tôi đâu có tiền! Chúng tôi ghé quán bình dân ăn 2 xuất cơm, uống nước và lững thững ra khu vực trong khuôn viên bãi xe đang xây dựng. Dưới ánh đèn vàng đục hắt ra từ những bóng đèn bảo vệ công trường, chúng tôi chọn đống panel beton xếp ngang giữa khoảng đất trống ngả lưng. Đêm ấy, trời giữa hè oi ả, thêm đàn muỗi liên tục quấy rầy, tôi không sao chợp mắt… Trong khi nhìn sang, thấy Hoài ngủ ngon lành, tiếng bạn ngáy át cả tiếng vo ve của muỗi. Cho đến bây giời, tôi cũng không hiểu vì sao, muỗi lại không châm hắn? Phải chăng, nhóm máu mang trong người không thuộc nhóm muỗi ưa thích!? Tôi thực sự cảm phục. Nửa đêm, thấy bạn tỉnh giấc nhìn sang phía tôi, ái ngại, liền thốt ra: Ông không làm “bụi đời” được! Xong hắn lại ngủ tiếp, như không có chuyện gì xảy ra. Tôi miên man trong những kí ức vụn cho tới sáng…
Sáng sớm, mỗi đứa ăn tạm chiếc bánh giò, uống chén nước chè, rồi vội vã lên chuyến xe ca đầu tiên về huyện lị Yên Dũng. Đường xe liên huyện rải nhựa nhưng làm từ thời chiến tranh nên giờ ổ voi xuất hiện suốt dọc đường, xe đi hết nghiêng bên trái, lại láng sang bên phải… Tuy đoạn đường chừng 30 km, xe chạy cũng mất gần 2 giờ đồng hồ mới tới bến. Chúng tôi cuốc bộ vào trường học. Tuy đã hết học kì, nhưng học sinh vẫn ở lại sinh hoạt lớp, tổng kết năm học nên các lớp vẫn có mặt đông đủ. Khi chúng tôi đến, bà xã của Hoài đang trên lớp. Hoài mở cửa phòng, chúng tôi vào nhà. Căn phòng nhỏ nằm trong dãy nhà cấp 4 được lợp lá cọ dành cho giáo viên các tỉnh xa ở, diện tích chừng 16m2, ngăn vách liếp. Phòng trong là công trình phụ và bếp. Đồ đạc trong phòng được sắp đặt khá gọn gàng. Một chiếc giường đôi bằng gỗ, chải chiếu. Góc phòng có một chiếc bàn trang điểm có gương. Trên bàn tôi thấy bày những đồ mĩ phẩm loại đắt tiền. Dễ nhận ra người bạn của tôi chu đáo, chiều vợ tới mức nào! Tôi đặt máy ảnh, balo lên góc giường và vào phòng trong tranh thủ rửa mặt. Đôi mắt do thiếu ngủ như muốn díp lại. Hoài ngồi xuống bàn uống nước, mở túi “3 gang” ra và lấy bút ghi chép việc gì đấy. Khi tôi quay ra, Hoài nói với tôi: Tôi lên văn phòng trường làm việc, ông tranh thủ nghỉ cho lại sức, lát ta vào việc. Tôi ngồi ghế, có thể do mệt nên cũng kịp chợp mắt được một lúc cho đến khi hai vợ chồng Hoài về. Gặp tôi, Tùng có chút ngạc nhiên, vừa cười vừa nói: Cái anh Hoài này rõ là làm khổ anh rồi! Chúng tôi nói chuyện một lúc… Đã gần trưa, Tùng xin phép vào bếp chuẩn bị cơm trưa. Hoài trao đổi với tôi công việc buổi chiều: chụp ảnh lưu niệm cho các lớp cuối cấp vừa thi xong. Tôi chuẩn bị máy, lắp phim. Buổi trưa, ăn cơm xong, Tùng sang nghỉ bên phòng cô bạn. Tôi và Hoài ngả lưng trên giường đôi. Buổi chiều mọi việc diễn ra như kế hoạch. Các em học sinh, theo hướng dẫn, sắp đặt của các giáo viên chủ nhiệm mỗi lớp tiến hành chụp ảnh khá nhanh. Em nào cũng vui vẻ, tươi tắn. Mọi việc kết thúc vào 17h00 chiều. Chúng tôi về phòng. Hoài dẫn tôi ra nhà tắm tập thể của giáo viên nội trú, xong quay về phòng giúp vợ chuẩn bị cơm tối. Tôi tắm xong, ra cổng trường dạo bộ dọc con đường đất đỏ ven đồi. Cánh đồng ngoài khuôn viên Trường trước mặt, vừa xong vụ gặt, nhuộm đỏ màu hoàng hôn. Từng đàn chim ngói, cò trắng chao liệng trên trời. Trong lúc dạo bộ, linh tính tôi mách bảo như sắp có điều gì bất thường? Mắt nháy liên tục…
Tôi quay lại. cũng là lúc đèn trước cổng trường đã bật sáng. Tôi đi về dãy nhà giáo viên. Các căn phòng đều sáng đèn, duy chỉ có phòng của vợ chồng Hoài tối đen. Im ắng. Khi tôi tiến vào, bỗng nghe một tiếng “choang” phát ra từ trong phòng không sáng đèn, phòng vợ chồng Hoài. Dưới ánh đèn hắt xuống từ trước hiên nhà, tôi thấy: dưới sàn nhà lát xi măng có chiếc mâm nhôm nằm úp, xung quanh, là những mảnh bát, đĩa vỡ cùng các đồ ăn vung vãi khắp mặt sàn… Thoáng thấy tôi đi vào, Hoài vội chạy ra, kéo tôi ra ngoài, kịp nói, giọng chùng xuống: Xin lỗi mày, tao… Chưa nói hết câu, Hoài quay lại. Từ trong phòng, tôi nghe tiếng nức nở, ẩn ức như cố kìm nén phát ra. Tôi đứng yên tại chỗ, xây lưng lạ, có ý chờ, phòng khi có chuyện… Bất giác tôi quay lại, căng mắt nhìn vào, thấy bạn mình đang quỳ gối trước người vợ, bộ dạng thành kính, liến thoắng: Anh xin lỗi Tùng, em tha lỗi cho anh, anh đã… Lát sau, tôi thấy cả hai cùng khoác tay bước ra, nét mặt cả đôi đã tươi tắn trở lại. Thật đúng như một màn kịch vừa công diễn! Tôi hiểu tính bạn, nghĩ, chuyện như thế này chắc xảy ra không riêng với gia đình trẻ của Hoài vào những năm tháng khốn khó, đến tự nuôi mình còn ngại, nữa là xây dựng một tổ ấm đúng nghĩa! Thấy hai vợ chồng Hoài lại ríu rít bên nhau, trao nhau những lời “có cánh”, tôi chỉ kịp nghĩ: Các cụ nhà ta thường nói với sự chia sẻ: vợ chồng sống với nhau có lúc còn “xô bát, xô đũa… liệu chỉ là cách ví von hình ảnh, hay có thật ngoài đời mà đúc kết như vậy!? Bữa tối hôm ấy, chúng tôi ăn ở một quán ngoài huyện lị…
Về chuyện gia đình nhỏ của Hoài, những năm sau này, trải qua nhiều biến động của thời cuộc, cả sự xê dịch nữa, hai vợ chồng vẫn sống hạnh phúc bên nhau. Qua bạn bè, tôi được biết, sau khi Hoài nhận quyết định vào Tây Nguyên công tác, Hoài đã chuyển vợ, con trai về quê ngoại ở Quy Nhơn, Bình Định. Hai mẹ con ở đây chừng vài năm, khi Hoài chuyển về Sài Gòn, cũng là năm, cả nhà đoàn tụ. Hoài xin cho vợ về công tác ở một Viện nghiên cứu khoa học, chi nhánh phía Nam. Ở đây, Tùng (vợ Hoài) được trở lại làm đúng với chuyên môn. Cô cùng các đồng nghiệp tham gia nghiên cứu, sản xuất thức ăn cho cá nước lợ nuôi ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, có nguồn thu ổn định. Cậu con trai duy nhất học đại học, chuyên ngành tài chính, ra trường về làm cán bộ tại một ngân hàng trong thành phố, lấy vợ, sinh con. Có một chuyện khác thường, tôi và bạn bè thân thiết của Hoài đều nhận ra: hầu như trong các sự kiện Hoài tổ chức, gặp mặt đồng ngũ, việc hiếu, hỉ của bạn bè, đồng nghiệp… không bao giờ thấy vợ, con Hoài tham gia? Có thể, Hoài muốn giữ tổ ấm của mình tránh những thị phi, điều tiếng không đáng có, đôi khi vẫn xuất hiện trong giới nghệ sĩ, showbiz… Và như vậy, có thể hiểu, Hoài biết cách bảo vệ gia đình nhỏ “từ sớm, từ xa” vậy! Nhiều lúc nghĩ về Hoài, về gia đình nhỏ của hắn, tôi thấy hắn là người có phước, hắn may mắn có được người vợ “đẹp người, đẹp nết”, đảm đang, hiểu chồng, thương hắn, lại có tấm lòng bao dung, không chấp “nê” những đồn đại… cả sự dệt, thêu về đức lang quân “lắm tài, nhiều tật” của mình. Và như vậy, cánh cửa ngôi nhà hạnh phúc của hắn luôn có lớp bảo vệ chắc chắn, không “tiểu tam”, tình địch nào (nếu có) có thể “lẻn” vào được! Hậu phương của Hoài như vậy là vững chắc, anh có thể yên tâm theo đuổi những đam mê của mình…
4. Suốt thời gian học trong trường đến khi tốt nghiệp và chờ quyết định nhận công tác, Hoài thường rủ tôi cùng đi công chuyện với hắn. Nhiều lúc tôi nghĩ, chắc có lí do, nhưng tôi không hỏi… Chắc hắn cũng có ý “đào tạo” tôi thành một cộng sự “nằm vùng” về lâu dài?! Nhưng tôi hiểu, trước nhất, Hoài biết tôi là người trung thực, hơn thế, cái bản mặt tôi dễ có cảm tình. Bạn bè tếu táo, đùa vui, nói, tôi có bộ mặt dễ xin việc!? Mặc mọi người nghĩ sao cũng được, cho đến giờ, hơn nửa đời hư nhìn lại, thấy cách “coi tử vi, đoán vận” của bạn bè, từ những ngày xa xưa ấy cũng có cái đúng. Quả thực, tôi cũng gặp nhiều may mắn, cả trong chuyện lấy vợ, sinh con, đường công danh… thuộc diện người luôn có “quý nhân phù trợ”! Những ngày “bám càng” theo Hoài học việc, tôi mới thấy sức làm việc “khủng”, cùng các mối quan hệ “rộng” của anh tới mức không tưởng! Đến bất kì bản báo, Đài Phát thanh - Truyền hình nào ở Trung ương, chưa tính các báo, tạp chí ngành trong địa bàn Hà Nội, hầu như anh đều quen biết, người ở những nơi Hoài đến đều coi anh như người của chính cơ quan mình vậy. Chỉ cần anh liếc mắt, nhoẻn cười là người trực cổng đã nâng barie lên để anh qua, không cần xuất trình giấy tờ tùy thân… Gặp người cần đưa bài, nhận “đặt hàng” viết mới, anh thường chép vội vào một cuốn sổ tay, kẹp cây bút bi. Anh viết như “mật mã”, người ngoài nhìn vào cũng không biết anh viết gì nữa. Cung cách làm việc rất linh hoạt, sau khi uống nước, trao đổi nhanh với người anh gặp sau đó ghé phòng tài vụ kí nhận nhuận bút bài vở đã đăng và nhận báo biếu. Những nơi anh cộng tác thường xuyên, anh thường gom các phiếu nhận tiền thành một xấp để lĩnh luôn một thể.
Mỗi ngày mới, trong chiếc túi “Ba gang” luôn khoác trên vai của Hoài, có đủ loại bản thảo, đề cương kịch bản các sow truyền hình, show diễn ca nhạc… thường đến gần trưa mới rải xong. Khi ấy, Hoài thường mời tôi vào quán phở quen ăn trưa, xong ra quán cóc hè đường uống nước và hút thuốc. Cuộc sống cứ tiếp diễn như vậy cho đến ngày chúng tôi nhận công tác!
5. Chuyện “sang tên, đổi họ” của bạn, tôi cũng từng được nghe bạn kể, giản dị, chứ không li kì như nghe qua lời những người khác, mang màu sắc “giai thoại” nhiều hơn. Chuyện là như thế này: Hoài là giọt máu Ca sĩ Tân Nhân, một nữ ca sĩ nổi tiếng, với một nhạc sĩ tài danh. Khi mang bầu đứa con, người cha mà khi lớn lên, Hoài chưa biết mặt, vì trong chuyến về thăm nhà vùng tạm chiếm, ông bị kẹt, không thể trở lại đơn vị… (theo Hồi kí của Tân Nhân - mẹ Hoài).
Câu chuyện về người cha, cùng sự cay đắng, tủi hờn nơi người mẹ là “một vết thương lòng âm ỉ trong cuộc đời của Hoài” (Có người lính binh nhất tên Hoài - bài viết của Mai Nam Thắng). Mẹ Hoài sau này nên duyên vợ chồng với một cán bộ Tuyên văn, ông làm thủ tục đổi họ đứa con riêng của vợ mang họ của ông… Khi được bạn tặng mấy tập sách, tên tác giả là Châu La Việt, tôi nghĩ, chắc là tên ghép những địa danh mà bạn mình đã đi qua, cũng chỉ đoán vậy, nhưng chưa có dịp hỏi. Mà không hỏi có khi lại hay, vì còn có cái để tưởng tượng, khám phá. Điều này, tôi đã rõ khi đọc bài viết của Nhà thơ, Nhà báo Mai Nam Thắng kể trên, tôi thực sự thích thú, vì nó đúng như cách suy diễn của tôi. Chinh Hoài “cắt nghĩa” về bút danh của mình khi thưa chuyện với người thủ trưởng Binh trạm 11 tại mặt trận Nam Lào thời chiến tranh chống Mỹ: “Châu tức là thôn Châu Phong ở huyện Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh, bên dòng sông La đẹp nổi tiếng, là nơi em được sinh ra trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Quê mẹ em ở Cửa Việt của tỉnh Quảng Trị. Châu La Việt là những địa danh thiêng liêng, thân yêu nhất của cuộc đời em…”.
Hoài lớn lên, đi học, phần lớn thời gian ở bên ngoại. Cả một thời tuổi trẻ không sống cùng mẹ đã hình thành nơi Hoài ý thức tự lập, cùng ý chí vươn lên mãnh mẽ. Hình dung về Hoài những ngày này, tôi lại nhớ tới nhân vật “nhí” - Rêmi trong tác phẩm “Không gia đình” của Nhà văn Pháp Hector Malot. Chú bé ấy cũng có hoàn cảnh như nhân vật của tôi, có tính tự lập, tự tin, tự trọng, thương người, ham lao động, sống có trước, có sau, luôn luôn muốn làm người có ích… Và sau hết, may mắn vẫn đến với cả hai! Có thể nói, suốt thời trẻ trâu, nhà bạn bè đã là ngôi nhà thứ hai, thứ ba… của chàng trai “đơn thân” này! Nhiều lúc tôi nghĩ, một người như Hoài, sống giữa nơi phố thị lắm cám dỗ, lại không có mẹ ở bên, nếu không có sự đùm bọc, chở che của gia đình bạn bè, thầy, cô giáo, anh sẽ thế nào? Có lần Hoài tâm sự: những năm tháng “tuổi thơ tôi”, nếu không có những “bố, mẹ nuôi” nuôi dưỡng, chắc chắn tôi đã là đứa trẻ bụi đời…
Năm 17 tuổi, Hoài xung phong vào bộ đội, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ở vào thời kì ác liệt. Hoài có mặt ở chiến trường Nam Lào… Những ngày trong quân ngũ, Hoài nhận ra một chân lí giản dị: Với người lính, tình đồng đội, nghĩa đồng bào là cao quý, thiêng liêng nhất! Và anh cũng sống hết mình vì bạn, vì đồng đội, vì nhân dân… coi như một sự trả ơn cuộc đời vậy! Về tình cảm với mẹ, Hoài thương mẹ nhiều lắm, và luôn tâm niệm, sống sao để mẹ yên lòng, “không muốn làm bất cứ điều gì làm mẹ phải khổ thêm nữa”. Tôi nhớ một chuyện, Hoài có lần kể riêng với tôi: ông có biết, có một lần về thăm mẹ, tôi tình cờ xếp lại cái gối trên giường mẹ, thấy rơi ra một cuốn sổ tay, tôi lật giở, và thấy những dòng ghi các lần mẹ cho tôi tiền, ghi chi tiết, ngày, giờ… Lúc ấy, tôi thực sự choáng, trong đầu dâng lên bao cảm xúc trái chiều… Khi ấy, tôi thấy nét mặt Hoài nhợt nhạt, ánh mắt buồn đến nao lòng… Tôi an ủi bạn, mẹ lo nhiều việc, cần ghi như vậy để nhắc là mẹ đã làm được gì cho ông…; để hiểu được lòng mẹ, chắc ông phải sống mấy cuộc đời đấy (lúc ấy chẳng hiểu sao, tôi lại dẻo miệng đến vậy!?). Tôi nói cho nhanh: với mẹ, ông là người không gì thay thế được! Vậy thôi. Khi ấy, thấy Hoài không nói gì… Suốt một thời gian dài, nhiều lần Hoài về thăm mẹ, bấy giờ còn ở khu tập thể gia đình (báo Nhân Dân) trong khu tập thể Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội, thường rủ tôi cùng đi. Gặp mẹ lần nào cũng thấy hai mẹ con ríu rít bên nhau, Hoài nói với mẹ những dự định, nào đang cấu trúc lại, nhờ người đọc giám định bản thảo tiểu thuyết của dượng để xuất bản, tập hợp các bài viết của mẹ, về mẹ, dự định sẽ in thành sách mừng sinh nhật lần thứ 60 của mẹ…
Bản thảo: “Người Huế” (viết tay) của tác giả Lê Khánh Căn, (cha dượng của Hoài, sinh thời Hoài vẫn gọi là bố) viết về những năm tháng quân và dân Trị Thiên - Huế vượt mọi gian khổ, hi sinh, anh dũng chiến đấu trong vòng vây, truy lùng của quân Pháp sau ngày chúng ta giành được chính quyền, xây dựng một nhà nước công nông đầu tiên, đã công bố ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân vào ngày Giỗ đầu của ông. Còn bản thảo cuốn sách của mẹ, nghệ sĩ Tân Nhân, một tập sách mà Hoài bỏ nhiều công sức nhất, dành nhiều thời gian nhất trong những cuốn sách Hoài làm, gần 10 năm sau ngày mẹ về với thế giới người Hiền (2008), đến năm 2017, cuốn sách: “Nghệ sĩ Tân Nhân và Xa khơi” mới chính thức ra mắt ở Nhà xuất bản Văn học. Nhận xét về cuốn sách, trong Lời giới thiệu có viết: “Một kết cấu đẹp, tất cả đều tập trung làm rõ chân dung tinh thần của ca sĩ lừng danh Tân Nhân”. Dành gần chục năm chuẩn bị một bản thảo, đủ biết, Hoài nhẫn nại “tìm lại” hình ảnh người mẹ mình trên cuộc đời, mối tình trắc trở của mẹ, tình cảm của người thân, bạn bè, đồng nghiệp, những người từng gặp, từng cộng tác với mẹ… những cố gắng vượt lên số phận, những đóng góp trong lao động nghệ thuật của mẹ… là vô cùng thiêng liêng. Nhưng, Hoài nhưa yên tâm về tập sách này, dù đã nhận được nhiều phản hồi tốt từ phía bạn đọc… Là người làm sách, điều tôi cảm nhận và chia sẻ được với Hoài, nhưng khó nói ra cái sự chưa “yên tâm” đó là gì!? Mãi đến khi gặp lại người bạn cùng khóa, giờ đã là một nhà nghiên cứu phê bình văn chương nổi tiếng, đó là Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Suyền, anh bạn nhận lời viết giới thiệu cuốn sách, có thể coi như một “Chuyên luận mini” của nhà nghiên cứu phê bình tài hoa về đóng góp của mẹ trong tư cách “người đàn bà hát”, giá trị nghệ thuật tác phẩm “Xa khơi” của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ và ý nghĩa của cuốn sách, Hoài mới thực sự hài lòng, mãn nguyện, khép lại dự án của đời mình. (Bạn có thể đọc bài viết: “Nghệ sĩ Tân Nhân: Tổ Quốc ơi, tôi ca hát vì Người”, in trong cuốn “Những tượng đài và hiện tượng văn chương Việt Nam hiện đại”. Trần Đăng Suyền. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. H.2022).
Về người cha nhạc sĩ, tôi thấy Hoài ít nhắc tới, nhưng tôi biết, Hoài vẫn nuôi hy vọng có ngày gặp lại, không ở chốn này thì ở miền đất khác! Tôi nhớ, vào những năm 90 của thế kỉ trước, sau khi Mỹ chính thức xóa bỏ cấm vận với ta (1995), quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa giữa hai nước đã có những chuyển đối nhanh chóng, tích cực; quan hệ ngoại giao nhân dân được khai mở, nhiều bà con Việt Kiều đã trở về nước, gặp lại người thân… Tôi có đọc một bài báo đăng trên báo Tiền Phong của tác giả Triệu Phong, viết về tình cảm chia xa, nỗi lòng của một người con với người cha chỉ nghe tên mà chưa biết mặt… Một bài báo tôi đọc mà thấy trái tim như rung lên, cảm thấy máu như dồn cả về bên ngực trái vậy. Xúc động đến ngỡ ngàng, trên hết là niềm tin, hy vọng nơi người con mong mỏi được gặp lại người cha trong “mộng” của mình. Nhìn tên tác giả bài báo, cùng với những thông tin ẩn giấu giữa các dòng chữ, tôi đoán “tâm thư” qua bài báo là của anh bạn Lê Khánh Hoài - Châu La Việt. Đoán vậy, sau khi đọc bài báo (tôi cắt và lưu giữ bài báo này), tôi không gọi điện hỏi, vì muốn cùng chung niềm hi vọng của bạn.
Sau này, khi gặp lại, tôi được Hoài kể về “Người trở về”- người cha của mình, những ngày “đoàn viên” của một gia đình “đặc biệt”, chắc chỉ có ở nước mình những tháng ngày chia cắt, đoàn tụ trong nước mắt, nụ cười… Và lần gặp lại sau, khi tôi ra quân, chuyển vào Sài Gòn (năm 2002), tôi lại chứng kiến ngày Hoài tổ chức tang lễ cho người cha (ông mất ở bên Mỹ), tại một ngôi chùa ở quận 5. Người chủ lễ hôm ấy là Đạo diễn Lê Cung Bắc, người cùng quê, người quen của gia đình Hoài. Tôi mang hoa và 1 bó nhang, chai rượu vodka Hà Nội đến viếng, đưa di ảnh và hồn người quá cố vào trong… Chùa Việt. Mơ ước làm một tập sách Người cha khuất núi - Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Hoài đã bỏ công sức, tìm lại những bài viết đã mờ theo thời gian, cả trong kí ức ít nhiều đã phôi phai của những đồng nghiệp, bạn hữu cùng thời, cùng chiến tuyến… Họ là những nghệ sĩ chân chính, luôn tôn trọng tài năng, không giữ ác cảm dài lâu với đồng nghiệp, dù người nhạc sĩ bị “tuột xích” như Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Với năng lực của một nhà báo có “đai” trong làng báo, anh bỏ công sức tìm gặp bạn bè của cha, thực hiện các cuộc phỏng vấn, ghi lại những dòng hồi ức của họ về cha… Và tập sách: “Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ: Rước tình về quê hương”, Nhiều tác giả, công bố tại Nhà xuất bản Văn học, vào ngày giỗ lần thứ 10 của cố nhạc sĩ tài danh này. Với Lê Khánh Hoài - Châu La Việt, chỉ trong khoảng thời gian ngắn, tổ chức thành công bản thảo của ba bậc “phụ huynh”: Bố Lê Khánh Căn (cha dượng), mẹ Tân Nhân và cha ruột, Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và xuất bản thành sách, quả là một việc phi thường, thật đáng khâm phục, ngay cả với những người làm sách chuyên nghiệp như chúng tôi!
6. Nhớ về bạn, tôi không quên hình ảnh một” bầu sô” trẻ tuổi, vai đeo chiếc túi vải sờn cũ, miệng ngậm điếu thuốc lá luôn đỏ lửa, tất tả, hăm hở “xuống đường” lăn vào công việc. Trong thời gian chờ Quyết định phân công tác sau tốt nghiệp, Hoài về lưu trú cùng tôi chỗ anh, chị tôi ở ngõ Hàng Bún, quận Ba Đình, Hà Nội, cho tiện công việc. Bấy giờ anh tôi làm phóng viên của Đài Phát thanh Hà Nội (thời kì này chưa có kênh truyền hình). Mỗi buổi sáng thức dậy, hai đứa chúng tôi cuộc bộ, đi tắt qua đường tàu điện, ra gánh xôi xéo bên đường Quan Thánh, gần vườn hoa Hàng Đậu ăn sáng. Tôi để ý thấy, sáng nào Hoài cũng ăn món xôi xéo, rắc hành khô, rưới một lớp mỡ lợn. Tôi nghĩ đó là món khoái khẩu của hắn. Ngày nào cũng vậy, buổi sáng là giờ “giao dịch” bản thảo, kí kết hợp đồng chương trình…
Buổi trưa hai chúng tôi về nghỉ trưa, thường chỉ có hai đứa tôi vì anh, chị đi làm, buổi trưa thường không về. Trong lúc tôi chợp mắt lấy sức, Hoài ngồi trên ghế sáng tác. Trước mặt Hoài là tờ giấy một mặt (loại giấy đánh máy bài phát thanh trên đài đã sử dụng, một mặt trắng, anh tôi mang về), tôi thường nhìn thấy một cái khóa son Hoài vẽ nguệch ngoạc, tiếp là dòng sampo in nghiêng, viết để dẫn vào chuyện - Hoài giải thích, - khóa son là phần nhạc dạo (sẽ chọn sau), đối với thể loại “câu chuyện truyền thanh” cho các Đài phát thanh. Kịch bản những chương trình này, Hoài vẫn hay nói vui là món “mì ăn liền”, thường chuyển thể từ các truyện ngắn “hót” in trên các báo có trang Văn nghệ, các tập truyện ngắn in thành sách ở các nhà xuất bản… Như thế, nguyên liệu “đầu vào” của các tác phẩm “câu chuyện truyền thanh” phát sóng là vô cùng phong phú và đa dạng. Tôi có cảm nhận, những tác phẩm này, các nhà đài đều “đặt hàng” nhà biên kịch Lê Khánh Hoài, bởi lẽ, sáng tác Hoài viết buổi trưa, buổi tối đã thấy được phát trên đài rồi! Với các đơn hàng cao cấp (kịch bản dàn dựng sân khấu), Hoài về quê tôi sáng tác, nơi đã có mẹ tôi chăm sóc. (Có đận, hắn ở lại cả tháng trời, xong việc hắn mới ra).
Một biệt tài có sẵn trong anh, chính là khả năng tổ chức sự kiện ca nhạc (bầu sô, một tên gọi có từ sau 1975). Bạn hãy hình dung, những năm 70 của thế kỉ trước, khi nước nhà chưa thống nhất, các chương trình ca nhạc biểu diễn trực tiếp, chỉ có ở Thủ đô và các thành phố lớn, được tổ chức mừng các sự kiện trọng đại… Ở các địa phương khác, ít có điều kiện tổ chức dạng chương trình này. Có thể nói, Hoài là người đi tiên phong. Ngay khi còn là sinh viên, tôi đã được Hoài rủ đi theo đoàn ca múa nhạc “cơ động” hội tụ hầu hết các ca sĩ nổi tiếng, xưa nay chỉ nghe giọng hát trên đài, trong đĩa nhạc… như các nữ ca sĩ: Lê Dung, Thu Hiền, Thúy Hà, Bích Việt, Linh Nhâm, Thanh Hoa,… các giọng ca nam, thế hệ “vàng” như: Quốc Hương, Ngọc Tân, Doãn Tần, Trung Đức, Quang Lý, Quang Thọ, Dương Minh Đức… cùng các ban nhạc nổi tiếng thời bấy giờ, do anh tổ chức, đạo diễn, đi về các địa phương như Hải Phòng, Hà Bắc, Thái Nguyên, Nam Định… biểu diễn, bán vé lấy tiền trả “thù lao”cho diễn viên, ban nhạc… và tích lũy vốn liếng cho riêng mình. Những nơi đoàn đến biểu diễn, vé thường được bán trước, luôn trong tình trạng cháy vé. Vé còn được đem ra giao bán “chợ đen” (như cách gọi sau này). Có nơi phải ở lại diễn thêm, nhằm phục vụ yêu cầu của các khán giả địa phương. Các chương trình ca nhạc do Hoài tổ chức, thực hiện đã là những sự kiện văn hóa gây ấn tượng sâu đậm trong đời sống âm nhạc phía Bắc thời bấy giờ! Tôi còn nhớ, năm lớp tôi đi thực tế ở làng Bưởi Diễn (ngoại thành Hà Nội), tôi và Hoài được lớp bố trí ở tại gia đình một bà mẹ, Trưởng Hội Phụ nữ xã. Hôm liên hoan chia tay, mẹ nói với chúng tôi làm sao có thể mời Ca sĩ Linh Nhâm, diễn viên ngâm thơ của Đoàn ca múa nhạc Quân đội về biểu diễn. Hoài chiều theo nguyện vọng mẹ. Trong đêm biểu diễn, Hoài đón nghệ sĩ Linh Nhâm và nghệ sĩ đàn phong cầm (accordion) nổi tiếng Dương Kiều Minh về tham gia. Sau đêm ấy, bà nói: cả đời u chỉ được nghe giọng ngâm thơ của cô Nhâm trên loa đài truyền thanh, đến hôm nay, tận mắt u được nhìn, tai u được nghe trực tiếp giọng ngâm thơ ngọt ngào… như bưởi Diễn quê nhà vậy. Thật là mãn nguyện…
7. Kỷ niệm ngày chúng tôi chia xa, ngày tôi nhận quyết định trở lại quân ngũ, về làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (Chính Hoài là người giới thiệu tôi). Cũng gần một năm chờ đợi vì những thủ tục dích dắc khi đổi quyết định. Hoài chờ tôi xong mọi thủ tục rồi hắn lên đường vào Nam. Chúng tôi bặt tin nhau từ ngày ấy. Tôi chỉ biết vài thông tin về bạn: Từng lên Tây Nguyên dạy học, về Sài Gòn làm báo, từ báo phường rồi về làm “hợp đồng đánh thuê” cho tờ Thanh Niên, khi tờ báo này “nâng cấp” từ tuần tin lên báo in hàng ngày. Có thể nói, những cơ quan báo chí Hoài từng cộng tác, thường chỉ ở giai đoạn đầu. Tôi tự cắt nghĩa được, một người có nhiều sáng kiến, tâm huyết, đa tài như hắn, không thể “cống hiến trọn đời” cho một tờ báo! Có thể hiểu, công cuộc “khai phá”, “khơi dòng” văn hóa đọc mới đích thị là thiên chức của hắn, có thể kể ra như sau: Báo Thanh niên, Thanh niên thời đại, Lao Động & Việc làm, Thời báo Văn học, Nghệ thuật Việt Nam… Và một điều, người trong cuộc khó nói ra: hắn quá thông minh và nhiều trăn trở đổi mới nội dung, hình thức, lắm “chiêu thức” làm báo, rất dễ vượt “lằn ranh” đỏ?!
Những năm sau, khi báo in giấy đã không còn sức hấp dẫn như trước, khi mà truyền thông đa phương tiện đã dần thay thế, Hoài chuyển qua làm sách, viết văn. Thời gian này, Hoài nhập cuộc làng xuất bản trong tư cách người tổ chức in sách cho những bạn văn, đồng đội một thời, phát hiện những cây bút trẻ. Có thể kể như trường hợp tập truyện ngắn đầu tay: “Những người bạn lính” của người lính, cựu chiến binh Nguyễn Trọng Luân, tác giả mới này sau đó trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; như trường hợp nhà thơ Phạm Văn Thanh (kể ở phần trên bài viết), Hoài động viên, giúp Trương Nhuận (nguyên Giám đốc Nhà hát Tuổi trẻ) in và Hoài trực tiếp giúp bạn bán sách kiếm tiền chữa bệnh cho bạn… Anh làm tuyển tập các nhà văn được tặng Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh, như trường hợp nhà văn Xuân Thiều với tập sách: “Nhà văn Xuân Thiều - cuộc đời và tác phẩm”. Nhà xuất bản Văn học. H.2012. Anh bỏ tiền riêng in các tập thơ của các nhà thơ liệt sĩ: Thơ Lê Anh Xuân, Thơ Nguyễn Trọng Định…
Hoài còn trực tiếp tham gia xây dựng Nhà tưởng niệm nhà thơ Tố Hữu, đạo diễn Chương trình kỷ niệm 40 năm đời ca hát của Nghệ sĩ ưu tú (sau là NSND), Đại tá Dương Minh Đức, tại Nhà hát lớn Hà Nội; Tổ chức các show diễn của các nghệ sĩ “Giọng ca Vàng”: Quang Thọ, Doãn Tần, Dương Minh Đức… suốt chiều dài đất nước, để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng công chúng yêu thích nhạc Cách mạng… Hoài tham gia các chuyến đi thực tế về lại chiến trường xưa: Nam Lào, Điện Biên Phủ…, dự các Trại sáng tác khắp 3 miền, tìm cảm hứng sáng tác, trở lại nghề viết văn đầy tham vọng, công bố một loạt tác phẩm, bao gồm: tiểu thuyết, truyện kí, kí sự - chân dung, Thơ,… liên tục những năm gần đây: “Người chiến binh mang tên dòng sông” (Nhà xuất bản Văn học), “Mai Pimua” (Nhà xuất bản Văn học), “Hoa Êmiêng” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân), “Chim vẫn hót cúc cu bên đồi” (Nhà xuất bản Lao Động), “Một buổi sáng nhiều chim” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân), “Tiếng đàn tuổi 20” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân), “Vầng trăng Him Lam” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân)… Hoài quan niệm về văn chương thật khiêm nhường: “Tôi chỉ là người nhà quê chăm chỉ, cần mẫn trên cánh đồng văn chương”.
Từ đây, bạn bè ít gặp Hoài trong các sự kiện, thậm chí không thể gặp, trừ khi anh trực tiếp gọi, sau đó là cúp máy… Anh đang đua với thời gian để viết sách, để “ghi lấy cuộc đời mình” (ý thơ Hữu Thỉnh). Biết khó gặp được Hoài, nhưng bạn bè tin, độc giả tin, anh sẽ có thêm nhiều tác phẩm khi tuổi tác, sức khỏe vẫn không làm khó cho anh trong thực hiện ước mơ nửa sau cuộc đời mình…
Thay cho lời kết
Chắc sẽ còn nhiều chuyện tôi sẽ kể về ông, những chuyện chỉ có ông biết, tôi biết, để người khác biết về ông, một nhà báo tài hoa, một người tổ chức sự kiện (event) có số má trong giới showbiz…, một nhà văn cựu chiến binh mang bút danh Châu La Việt với bút lực dồi dào, luôn cháy bỏng niềm đam mê đi và viết những ngày này. Bằng bài viết này, tôi học theo cách “tìm bạn” của nhà văn quân đội họ Phùng: muốn tìm bạn, cách tốt nhất là thử “bóc phốt”, đưa lên mạng, người cần tìm sẽ xuất hiện…!? Hy vọng là vậy. Tôi đoán ông đang thực hiện dự án của đời viết, tập trung cho một tác phẩm để đời về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang, trong năm đất nước đang náo nức hướng tới Lễ kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân (1944 - 2024)… Tôi và bạn bè vẫn biết, ông là một người tài hoa lấp lánh mà. Nhưng văn chương là một công việc chẳng dễ dàng, ngoài tài năng còn phải là người có tư tưởng nữa. Để kết thúc bài viết “tìm” ông, tôi muốn nhắc lại lời khuyên của Nhà văn Đỗ Chu, bậc “liền anh” trong giới với ông: “Hãy viết như mẹ anh đã từng hát. Ngậm từng chữ, nhả từng câu, đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương nhớ cũng tột cùng…”

