- Nhà văn & Góc nhìn
- Nguyễn Đức Mậu – Một đời lính, muôn thuở thơ
Nguyễn Đức Mậu – Một đời lính, muôn thuở thơ
LÊ HUY HÒA
Trong dòng chảy thi ca Việt Nam thế kỷ XX, có những nhà thơ sinh ra để làm thơ từ thuở thanh xuân, có những nhà thơ được tôi luyện và trưởng thành từ lửa đạn chiến trường. Nguyễn Đức Mậu thuộc về dòng chảy thứ hai – một người lính cầm bút, một nhà thơ khoác áo lính, mà hành trình sáng tác của ông là hành trình gắn liền với số phận dân tộc, với máu xương đồng đội và nỗi đau khắc khoải của hậu chiến.
Một người lính, một tâm hồn thơ
Sinh năm 1948 tại vùng đất Nam Định giàu truyền thống văn hiến, Nguyễn Đức Mậu sớm bộc lộ tình yêu với thi ca. Nhưng định mệnh đã dẫn ông theo một con đường khác – con đường của người lính. Năm 1966, ở tuổi 18, chàng trai trẻ Nguyễn Đức Mậu lên đường nhập ngũ, gia nhập Sư đoàn 312 anh hùng. Ông đã trải qua những chiến trường ác liệt nhất: từ Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào), Quảng Trị, Khe Sanh, Tây Nguyên, đến Đông Nam Bộ và cuối cùng là Sài Gòn trong mùa xuân đại thắng 1975.
Chiến tranh đã tôi luyện Nguyễn Đức Mậu không chỉ thành một người lính dày dạn kinh nghiệm trận mạc, mà còn thành một nhà thơ có tầm vóc. Thơ ông là "thơ của một người trong cuộc", viết bằng máu và nước mắt, viết thay cho bao bạn bè, đồng đội đã ngã xuống. Những bài thơ như "Nấm mộ và cây trầm", "Màu hoa đỏ" ra đời từ chính những trải nghiệm đau thương ấy, từ những đêm chôn cất đồng đội dưới ánh đèn dù và tiếng bom rền…
Hành trình sáng tạo: Từ chiến hào đến văn đàn
Sau ngày thống nhất đất nước, Nguyễn Đức Mậu tiếp tục con đường văn chương với tư cách một nhà thơ chuyên nghiệp. Ông học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa I, rồi về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi ông gắn bó suốt ba thập kỷ với vai trò biên tập viên, Trưởng ban Thơ, và sau này là Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam.
Gia tài sáng tác của Nguyễn Đức Mậu đồ sộ và đa dạng:
Về thơ và trường ca: "Thơ người ra trận" (in chung, 1971), "Cây xanh đất lửa" (1973), "Áo trận" (1973), "Mưa trong rừng cháy" (1976), "Trường ca sư đoàn" (1977-1980) – một tác phẩm được đánh giá là bản hùng ca về Sư đoàn 312, "Trường ca Côn Đảo" (1978-1991), "Từ hạ vào thu" (1992), "Cánh rừng nhiều đom đóm bay" (1998), "Mở bàn tay gặp núi" (trường ca, 2008)...
Về văn xuôi: "Con đường rừng không quên" (truyện ngắn, 1984), "Ở phía rừng Lào" (truyện vừa, 1984), "Tướng và lính" (tiểu thuyết, 1990), "Chí Phèo mất tích" (tiểu thuyết, 1993), "Con đường nhiều tơ nhện giăng" (tập truyện ngắn, 2001).
Đặc biệt, "Tuyển tập thơ Nguyễn Đức Mậu" với hơn 500 trang in được xem như một tổng tập tổng kết về chiến tranh bằng thơ, và những nỗi niềm day dứt về thân phận con người của một người lính sau thời trận mạc.
Thơ Nguyễn Đức Mậu: Chân thực, đau đớn và nhân văn
Đọc thơ Nguyễn Đức Mậu, người ta có cảm giác như đang xem một thước phim quay chậm về chiến tranh. Ông không tô hồng, không tráng lệ hóa sự hy sinh, mà phơi bày tất cả sự khốc liệt, đau thương. Trong "Đêm Thành Cổ năm 1972", ông viết: "Đêm Thành Cổ ngổn ngang gạch vụn/ Đoạn chiến hào đầy tiếng chuột kêu/ Bầy chuột đói gặm xương người..." – những câu thơ khiến người đọc "sởn da gà" vì sự chân thực đến tàn nhẫn.
Nhưng đằng sau những câu chữ như nước mắt ấy, Nguyễn Đức Mậu vẫn mang đến cho chúng ta một niềm an ủi, một sự hướng thiện. Ông "hướng thiện cho cả kẻ thù bằng lòng nhân ái, vị tha", trở thành sứ giả của tình bằng hữu trong yên bình. Thơ ông là chỗ dựa cho nhiều "bấu víu" xung quanh, là liều thuốc quý chữa trị vết thương chiến tranh.
Bài thơ "Nấm mộ và cây trầm" được xem là một kiệt tác của thơ Việt viết về chiến tranh chống Mỹ. Những câu thơ: "Anh trinh sát hy sinh trao lại tấm bản đồ/ Anh xung kích hy sinh phất cao cờ chuẩn/ Xin Hùng hãy trao cho mình khẩu súng/ Trận đánh vẫn còn tiếp diễn, Hùng ơi!" đã khắc họa sinh động tinh thần "thế hệ tiếp nối" của người lính.
Còn "Màu hoa đỏ" (được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc) lại là bản tri ân xúc động với những người lính "mùa xuân ấy ra đi từ đó không về". Bài thơ này đã chạm vào trái tim hàng triệu người Việt, trở thành một phần không thể thiếu trong các dịp kỷ niệm, tưởng nhớ.
Những đánh giá từ đồng nghiệp và giới phê bình
GS.TS. Mã Giang Lân nhận xét: "Nguyễn Đức Mậu như các nhà thơ Việt Nam cùng thời, cùng thế hệ, sống cùng nhân dân và chính cuộc sống chiến tranh với những gian khổ, hy sinh, những chiến tích anh hùng là chất liệu, nguồn cảm hứng dồi dào, phong phú cho thơ".
Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải viết: "Đọc ông nhiều lúc, tôi có cảm tưởng, chiến sự đang diễn ra trước mắt... Không ai viết về chiến tranh giỏi như Nguyễn Đức Mậu".
Còn nhà thơ Nguyễn Trọng Văn, một đồng nghiệp thân thiết, nhận xét: "Thơ Nguyễn Đức Mậu chân chất, mộc mạc ở tình cảm mà tài hoa, thi sĩ ở cách biểu đạt".
Một nhân cách văn chương cao đẹp
Không chỉ là một nhà thơ tài năng, Nguyễn Đức Mậu còn được biết đến như một người tử tế, khiêm nhường, sống giản dị và có trách nhiệm. Ông từng ví mình là "viên sỏi sót lại trên chiếc sàng tử thần" – một sự so sánh khiêm tốn về những lần may mắn thoát chết trong chiến tranh.
Trong công việc biên tập, ông là người tận tụy, cẩn trọng, luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho những cây bút trẻ, nhất là những người lính cầm bút. Nhiều người kể lại, dù bận rộn, ông vẫn dành thời gian đọc và góp ý cho các bản thảo của các tác giả trẻ, thậm chí biên tập miễn phí cho các tập thơ "cây nhà lá vườn" của các đơn vị quân đội.
Đời sống riêng của ông giản dị đến bất ngờ. Sau giờ làm việc, người ta thường thấy ông đi bộ trên phố Lý Nam Đế – "phố nhà binh" – với dáng đi chăm chú như đang suy nghĩ về điều gì đó. Ông sống chan hòa với bè bạn, yêu thể thao (đặc biệt là bóng đá), và có một tình yêu sâu sắc với gia đình.
Thành tựu và giải thưởng
Những đóng góp của Nguyễn Đức Mậu cho văn học nước nhà đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng danh giá:
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001
- Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2001
- 03 giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1994, 1996, 1999)
- 03 giải thưởng của Bộ Quốc phòng (1989, 1994, 2004)
- Giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ năm 1972-1973
- Giải thưởng Văn học Sông Mê Kong ở Myanma (2019)
Kết: Một đời tử tế, muôn thuở thơ hay
Nguyễn Đức Mậu thuộc về thế hệ những nhà thơ "bước ra từ cuộc chiến nhưng nỗi niềm gửi gắm trong thơ vẫn như những ngày cầm súng trực tiếp chiến đấu ngoài trận địa vì lẽ phải và công lý". Ông đã vinh dự được nhận giải thưởng Nhà nước, và "mừng cho ông cũng là mừng cho cả thế hệ các nhà thơ thời chống Mỹ, các nhà thơ mặc áo lính".
Trong ông hội tụ tinh hoa của đất Nam Định văn nhân và sự uyên thâm của kẻ sĩ Bắc Hà – Thăng Long – Hà Nội. Thêm nữa, ông lại là người đọc nhiều nên – "kim – cổ – đông – tây" trong ông đều có cả. Làm thơ trên một cái nền văn hóa và tri thức như thế, lại được thiên phú nữa, Nguyễn Đức Mậu xứng đáng là một trong những nhà thơ quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại.
Ở tuổi ngoài 70, Nguyễn Đức Mậu vẫn miệt mài với công việc biên tập, vẫn lặng lẽ sáng tạo. Ông như một cây đại thụ trong vườn thơ Việt, âm thầm tỏa bóng mát cho những thế hệ sau. Với ông, thơ không chỉ là nghệ thuật mà còn là đạo, là trách nhiệm, là lẽ sống.
"Phủ nhận ông là phủ nhận văn học sử nước nhà" – đó không phải là một lời nói quá, mà là sự thừa nhận xứng đáng cho một đời cầm bút tận tụy, một tâm hồn thi sĩ lớn, một nhân cách văn chương cao đẹp: Nguyễn Đức Mậu.